Chương 13: Lòng tham của nhân loại — Sự sụp đổ của văn minh (Phần thượng)
Thứ có thể đe dọa nền văn minh mà nhân loại đã xây dựng qua năm nghìn năm không ngừng chiến thắng sự dã man, giờ đây không còn là kẻ thù truyền kiếp của văn minh, vốn là sự dã man, nữa. Thứ ngày nay có thể hủy diệt nhân loại văn minh chỉ có thể là sự tự hủy do chính con người văn minh đánh mất đạo đức của mình gây ra. (Lời đề từ).
Tiết 1: Nguy cơ lớn nhất của văn minh bắt nguồn từ lòng tham của chính con người
Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, Abraham Lincoln, trong một bài diễn thuyết năm ông 28 tuổi đã chỉ ra rằng thứ có thể đe dọa nước Mỹ tuyệt nhiên không phải là thế lực bên ngoài, tức là quân đội và của cải của toàn thế giới cũng không thể đánh chiếm được nước Mỹ. Ông nói:
“Vậy thì đến thời điểm nào chúng ta sẽ thấy hiểm họa đang đến gần? Nếu để tôi trả lời: nếu hiểm họa có đến, thì nó chỉ có thể phát sinh từ giữa chúng ta. Nó sẽ không đến từ nước ngoài. Nếu diệt vong là số phận của chúng ta, thì chỉ chính chúng ta mới là kẻ khởi đầu và kẻ kết thúc số phận ấy. Là một dân tộc gồm những con người tự do, chúng ta hoặc trường tồn cùng thế gian, hoặc tự hủy diệt chính mình.”
Cùng một đạo lý đó, thứ có thể đe dọa nền văn minh mà nhân loại đã trải qua năm nghìn năm, xây dựng bằng việc không ngừng chiến thắng sự dã man, giờ đây không còn là kẻ thù truyền kiếp của văn minh, sự dã man. Thứ ngày nay có thể hủy diệt nhân loại văn minh, chỉ có thể là sự tự hủy do khiếm khuyết của chính con người văn minh gây ra.
Khi giá trị tự do chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa cộng sản, dường như không gì có thể ngăn nhân loại bước vào giai đoạn văn minh mới
Văn minh nhân loại đến nay đã đi qua năm nghìn năm lịch sử. Ít nhất từ “Thời đại Trục” (Axial Age), con người ở các khu vực khác nhau trên thế giới đã biết dùng phương thức đạo đức để đối đãi với những vấn đề họ gặp phải, đã xây dựng nên một số giá trị chung vượt lên trên các nền văn minh khu vực, những giá trị căn bản như: đốt phá, giết chóc, cướp bóc, lừa gạt là vô đạo đức. Mấy nghìn năm qua, nhân loại chính là thông qua việc kháng cự, tẩy chay, phỉ nhổ, tránh xa những phương thức chiếm đoạt dã man và vô đạo đức như đốt giết cướp bóc, cưỡng đoạt lừa lọc mà phát triển, học hỏi khái niệm văn minh cùng nội hàm của nó.
Trong đó, văn minh phương Tây bắt rễ từ văn hóa dân chủ thành bang Hy Lạp cổ đại, sau thời Phục Hưng cận đại đã dần xác lập lý niệm mọi người sinh ra đều bình đẳng, đồng thời phát triển nên chế độ dân chủ hiện đại để bảo đảm những quyền thuộc về văn minh của con người. Dù vậy, dục vọng của con người đối với lợi ích vẫn lớn đến mức khó lòng từ bỏ phương thức cướp đoạt dã man, đến nỗi xã hội phương Tây, vốn cùng thừa nhận lý niệm tự do nhân quyền, còn phải trải qua hàng trăm năm chinh chiến và hai cuộc thế chiến mới học được cách chung sống theo phương thức văn minh. Trên phạm vi thế giới, cuối cùng mới xuất hiện nhận thức văn minh rằng “giữa các quốc gia dân chủ khó xảy ra chiến tranh” và niềm hy vọng hòa bình của nhân loại, xuất hiện thế giới tự do phương Tây đại diện cho niềm hy vọng ấy.
Sau đó lại trải qua gần nửa thế kỷ Chiến tranh Lạnh, thế giới tự do phương Tây mới chiến thắng triệt để phe chủ nghĩa cộng sản dã man và vô đạo đức; nhân loại cuối cùng có thể thực hành lý tưởng sản xuất theo phương thức văn minh, thay vì chiếm đoạt theo phương thức dã man. Quả thực, khi hệ giá trị tự do, nhân quyền, kinh tế tự do chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa cộng sản vào thập niên 90 của thế kỷ trước, dường như đã không còn gì có thể ngăn cản nhân loại bước vào một giai đoạn văn minh mới.
Sự xuất hiện của thứ “dã man hào phóng” mà nhân loại chưa từng thấy
Mấy nghìn năm qua, sự kháng cự, tẩy chay và phỉ nhổ của nhân loại đối với dã man, xét cho cùng chủ yếu xuất phát từ nỗi thống khổ và bất cam khi bị nô dịch, cướp bóc, chứ không phải từ sự tự giác vứt bỏ nguyên nhân thật sự đằng sau sự cướp đoạt dã man, vốn chính là lòng tham. Vì thế, khi Trung Cộng, tàn dư của phe cộng sản, xuất hiện dưới dạng một thứ “dã man hào phóng” mà nhân loại chưa từng thấy, nhân loại lại không biết ứng phó thế nào trước sự cám dỗ hào phóng này.
Cả thế giới đều biết sự dã man của Trung Cộng. Thế nhưng, từ khi Giang Trạch Dân cầm quyền, sự dã man của Trung Cộng không còn giống kiểu dã man của Hitler hay Stalin dùng vũ lực đe dọa thế giới bên ngoài; sự dã man của Trung Cộng chỉ nhắm vào bên trong lãnh thổ Trung Quốc. Trung Cộng chẳng những không đe dọa bên ngoài, ngược lại còn rất hào phóng, sẵn lòng đem một phần lợi ích thu được từ việc nô dịch, cướp bóc dưới ách cai trị của nó ra chia sẻ với thế giới; điều kiện duy nhất cũng chẳng khắc nghiệt gì: chỉ cần không xen miệng vào chuyện nó đốt giết cướp bóc, cưỡng đoạt lừa lọc trong lãnh thổ của nó là được. Phần chia lợi ích dễ dàng có được thì to lớn đến thế, còn nỗi khổ của người khác (người Trung Quốc) thì xa xôi đến thế; sự lựa chọn ở giữa thật đơn giản và có vẻ vô hại, đến nỗi không một chính phủ nào của thế giới tự do có thể cưỡng lại được sự cám dỗ của Trung Cộng thời họ Giang.
Sự cám dỗ của Trung Cộng thời Giang không phải là phương lược trị quốc hay ngoại giao cao minh gì. Ngược lại là đằng khác, nó là sản phẩm của việc Giang Trạch Dân, đứng trước tình cảnh khốn đốn kép cả trong lẫn ngoài, khi Trung Cộng mất tính chính danh cầm quyền ở trong nước lẫn trên trường quốc tế, còn bản thân ông ta thì hoàn toàn không có năng lực trị quốc lẫn uy tín, vì tư dục cá nhân mà ở trong nước thì buông tay cho tham nhũng để xây dựng nền tảng quyền lực cá nhân, ở quốc tế thì bán rẻ lợi ích quốc gia của Trung Quốc để đổi lấy sự mặc nhận và thỏa hiệp quốc tế.
Điều này về bản chất chẳng khác gì đại dâm phụ trong “Sách Khải Huyền” của Kinh Thánh dùng phương thức vô đạo đức và hạ liệt nhất để cám dỗ “con dân của Thần”. Đương nhiên, sở dĩ nó bán được sự gian trá ấy cũng là vì sự thúc đẩy của nhục dục và sự khiếm khuyết đạo đức của những kẻ hành dâm cùng nó.
Màn bi thảm nhất của văn minh nhân loại: văn minh sùng bái dã man
Vậy thì, phần chia lợi ích với điều kiện chẳng khắc nghiệt, có vẻ vô hại kia, có thật sự vô hại không?
Khi thế giới tự do nhận phần chia lợi ích từ Trung Cộng dã man, họ đối diện thế nào với lịch sử kháng cự, tẩy chay và phỉ nhổ dã man của chính mình? Khi thế giới tự do phương Tây vì lợi ích mà đành phải im lặng gật đầu trước hành vi dã man chà đạp nhân quyền của Trung Cộng, họ tự biện giải thế nào với những giá trị cốt lõi đại diện cho lý niệm của thế giới tự do phương Tây? Thế là, văn minh nhân loại xuất hiện màn kịch không thể tưởng tượng nổi mà cũng bi thảm nhất: văn minh ca tụng dã man. Trong hơn mười năm qua, những lời tán dương của thế giới tự do phương Tây dành cho đủ loại “tiến bộ” của Trung Cộng xuất hiện không ngớt, thậm chí còn tổng kết thành “mô hình Trung Quốc” để tâng bốc và thèm khát ngưỡng mộ. Rồi lấy “mô hình Trung Quốc” làm căn cứ để phê phán hệ giá trị phương Tây, thậm chí cho rằng “mô hình Trung Quốc” sẽ “thống trị thế giới” (Rule the world).
Cùng với sự đổ đài của Bạc Hy Lai và sự vỡ mộng của “mô hình Trùng Khánh”, “mô hình Trung Quốc” đã không còn thị trường gì nữa, bản thân điều này đã đủ chứng minh “mô hình Trung Quốc” chỉ là trò thổi phồng nhất thời, luận điểm của nó thậm chí không chịu nổi thử thách trong thời gian ngắn.
Còn nhìn từ những nội tình được tiết lộ, một trong những nguyên nhân của việc thổi phồng cái gọi là “mô hình Trung Quốc” là Trung Cộng mua chuộc thương nhân, truyền thông phương Tây để tiến hành tuyên truyền lừa dối theo kiểu “xuất khẩu rồi chuyển về tiêu thụ nội địa” cho thứ logic cường đạo “thành tích chứng minh tính chính danh cầm quyền” của nó.
Nhưng điều không thể bỏ qua là việc tâng bốc “mô hình Trung Quốc” đã có tác dụng che đậy sự xấu hổ cho việc thế giới tự do nhận phần chia lợi ích từ Trung Cộng dã man. Hiện tượng này có thể là ngắn ngủi, có thể chỉ do một bộ phận người làm ra, có thể có đủ loại nguyên nhân phức tạp, nhưng nó lạnh lùng nói rõ một sự thật: vì thứ lợi ích có vẻ vô hại, nhân loại văn minh có thể lấy lòng dã man, có thể ca tụng dã man, có thể phủ định giá trị văn minh của chính nhân loại văn minh, và tất cả những điều này bắt nguồn từ lòng tham của chính con người.
Đây chẳng phải là nguy cơ lớn nhất của văn minh sao?
Thể chế mang tính tham nhũng mà họ Giang thi hành khi cầm quyền cùng cuộc đàn áp Pháp Luân Công, thứ “thành tích” ấy đã hủy hoại nền văn minh cổ xưa năm nghìn năm của Trung Quốc trong chốc lát, khiến đạo đức xã hội Trung Quốc sụp đổ đến mức ngay cả văn minh bề ngoài, đạo đức bề ngoài cũng chẳng còn kiêng dè gì nữa. Hậu quả tệ hại ai cũng thấy, hiện trạng khiến người ta kinh tâm động phách. Sự hủy diệt văn minh bằng dã man kiểu này lấy bạo lực làm nền tảng, trực tiếp và trần trụi. Rất nhiều dân chúng của thế giới tự do phương Tây trước việc đạo đức xã hội Trung Quốc sụp đổ đến mức độ ấy vừa kinh ngạc vừa khó hiểu: chẳng lẽ người Trung Quốc không còn chút kiêng dè nào sao?
Thế nhưng, sự xuống dốc đạo đức trên phạm vi toàn cầu do Trung Cộng thời Giang câu dẫn lòng tham của con người trên trường quốc tế gây ra, sự xói mòn các giá trị căn bản mà nó tạo thành thì vẫn bị lòng tham của con người che mắt, thậm chí bị sự kiêng dè bề ngoài che đậy. Nếu người ta có thể xuyên qua sự kiêng dè bề ngoài để nhìn vào tình trạng đạo đức của thế giới tự do phương Tây, nhìn vào hệ giá trị của xã hội dân chủ phương Tây, nơi vẫn được rất nhiều người Trung Quốc coi là niềm hy vọng tương lai của xã hội Trung Quốc, thì những phá hoại tầng sâu về mọi mặt do sự câu dẫn của Trung Cộng thời Giang và lòng tham của nhân loại gây ra có lẽ còn khiến người ta kinh hãi hơn nữa.
Tiết 2: Sự sụp đổ đạo đức khi thành tín không còn
Sự bất trung với đạo đức tạo thành tổn thương sâu sắc nhất cho xã hội
Như đã nói ở trên, việc phương Tây tâng bốc và thèm muốn “mô hình Trung Quốc” chỉ là ngắn ngủi, nhưng việc thế giới tự do phương Tây nhận phần chia lợi ích từ Trung Cộng thì xuyên suốt hai mươi năm qua. Trong xã hội phương Tây tự có những nhân vật thông minh, họ không hề ngưỡng mộ sự dã man của Trung Cộng, họ cho rằng mình hoàn toàn hiểu rõ Trung Cộng. Họ tự tin rằng xét theo thực lực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, họ hoàn toàn có thể nắm Trung Cộng trong lòng bàn tay, cho nên chỉ là đang lợi dụng Trung Cộng để mưu lợi cho quốc gia của họ.
Vì cái lợi ích “lớn hơn” là quốc gia, họ chỉ mang tính sách lược mà miễn cưỡng chu toàn với Trung Cộng, tùy nhu cầu mà lúc thì khen ngợi một chút, lúc thì phê bình một chút, chẳng qua là diễn kịch theo hoàn cảnh mà thôi. Nào ngờ, thành tín cũng là giá trị nền tảng tất yếu của văn minh, và sự bất trung với thành tín của những nhân vật thông minh này lại chính là thứ tạo thành tổn thương sâu sắc nhất cho xã hội mà họ đang sống.
Đạo đức đương nhiên có ý nghĩa xã hội của nó, và ở một hình thức nhất định được ngoại hóa thành giá trị, nguyên tắc, pháp luật, chính sách, chuẩn mực hành vi, quy tắc ngành nghề, v.v., vốn là những quy phạm chỉ đạo hành vi của xã hội và cộng đồng. Xét từ bản chất nhất, đạo đức trước hết nhất định phải thể hiện thành tiêu chuẩn tự thân và sự tự ước thúc bên trong của cá thể. “Thận độc” mà sĩ đại phu Trung Quốc cổ đại nói đến, “danh dự thiêng liêng” mà Jefferson viết trong «Tuyên ngôn Độc lập», đều chỉ tầng bên trong của đạo đức: sự tự ước thúc, tự trung thành. Tầng bên trong của đạo đức quyết định biểu hiện ngoại hóa của đạo đức. Không có tấm lòng của Khổng Tử thì không nói được câu “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn thì đừng làm cho người); không có cảnh giới của Chúa Giê-su thì không nói được câu “muốn người làm cho mình thế nào, hãy làm cho người thế ấy”. Điều «Tuyên ngôn Độc lập» tuyên cáo là những giá trị mà các bậc lập quốc Hoa Kỳ thật lòng tuân theo trong nội tâm; còn việc Lincoln khởi thảo và ký «Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ» chính bắt nguồn từ sự trung thành và tín thủ của ông đối với tinh thần lập quốc của nước Mỹ.
Tầng bên trong của đạo đức quyết định rằng đạo đức hoàn mỹ nhất định là tự trung thành với chính mình và tuyệt không tự lừa dối, mà kẻ lừa người thì trước hết ắt phải tự lừa mình. Trong một cộng đồng xã hội, sự trung thành và cống hiến đối với những giá trị được công nhận của nó phản ánh sự thành tín hay không ở tầng đạo đức bên trong của họ. Khi một xã hội mà ngay cả những giá trị, nguyên tắc thuộc tầng bên ngoài của đạo đức cũng không thể hoàn toàn thành tín tuân thủ, thì những giá trị, nguyên tắc ấy ở tầng bên trong đạo đức của họ từ lâu đã chẳng còn gì. Khi họ cần dùng pháp luật, vốn là thứ bên ngoài của đạo đức, để biện minh cho hành vi của mình, thậm chí sửa đổi pháp luật để bảo vệ chính mình, thì thứ họ tin trong lòng từ lâu đã là thứ họ thật sự cần che giấu rồi.
Sự tự lừa dối ở tầng bên trong của đạo đức, sự giả dối đối với giá trị căn bản của thế giới tự do, chính là thứ xuyên suốt những gì thế giới tự do đã làm trong hơn hai mươi năm qua trước sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng. Vết máu “Lục Tứ” (Thiên An Môn 4/6) còn chưa khô, chính phủ Mỹ đã bí mật phái đặc sứ đến Bắc Kinh. Lời phê bình sự mềm yếu trong chính sách với Trung Cộng của người tiền nhiệm còn văng vẳng bên tai, chính phủ Mỹ đương thời đã tách vấn đề nhân quyền của Trung Cộng khỏi thương mại. Để Trung Cộng có thể vào WTO, Đảng Cộng hòa thậm chí phá lệ ra lệnh yêu cầu các thượng, hạ nghị sĩ của mình phối hợp bỏ phiếu với tổng thống Đảng Dân chủ. Bộ Ngoại giao càng thẳng thừng, công khai tuyên bố vấn đề nhân quyền không nên cản trở sự hợp tác giữa Mỹ và Trung Cộng trong những vấn đề “quan trọng hơn”.
Song có thể thấy một hiện tượng rất tương tự: lấy Tổng thống Clinton làm ví dụ, lời phê bình của ông về tình trạng nhân quyền Trung Quốc khi tranh cử là thật, những nỗ lực nhân quyền thời kỳ đầu nhiệm kỳ cũng là thật; việc sau này dưới áp lực của giới thương mại ông không giữ vững được là chuyện về sau. Nhìn rộng ra, dù là Tổng thống Bush con hay Tổng thống Obama, cũng đều có sự suy biến tương tự. Sự chuyển biến bị ép buộc này phản ánh hiện thực của nước Mỹ: đó là bước thụt lùi lịch sử khi lợi ích của các tập đoàn thương mại thay thế đạo nghĩa, khi đạo đức xuống dốc thì lòng tham chiếm thế thượng phong. Những chuyện lợi ích làm thay đổi chính sách, tập đoàn lợi ích chủ đạo chính sách quốc gia, lợi ích thao túng đạo đức cầm quyền và lý tưởng quốc gia như thế, trong lịch sử Hoa Kỳ là hiếm thấy, mà ngày nay lại là thường thấy.
Nếu đã đến mức ngay cả sự kiêng dè bề ngoài cũng chẳng màng, thì tinh thần lập quốc của Hoa Kỳ chẳng còn gì. Tinh thần lập quốc của Hoa Kỳ không còn, thì an ninh quốc gia và lợi ích lâu dài của nước Mỹ cũng sẽ không còn.
Tất cả những điều tự mâu thuẫn này, từ những kẻ lấy danh nghĩa “lợi ích quốc gia” cho đến những kẻ biện hộ bằng việc thúc đẩy dân chủ nhân quyền cho Trung Quốc, lại chưa bao giờ giải thích nghiêm túc với nhân dân Trung Quốc và nhân dân Mỹ rằng cái “lợi ích quốc gia” ấy cụ thể là gì. Họ không thể giải thích hiện thực nhân quyền Trung Quốc ngày càng tồi tệ, càng không thể trả lời trước dân chúng rằng chính sách bao năm qua xuất phát từ cân nhắc “lợi ích quốc gia” đã dẫn đến kết cục lạnh lùng như thế nào: Trung Cộng ngày càng ngang ngược với thế giới tự do, đe dọa chính “lợi ích quốc gia” của thế giới tự do.
Cái luận điệu “một Trung Quốc phát đạt hùng mạnh là có lợi cho thế giới”, thậm chí phải lấy ưu điểm của “mô hình Trung Quốc” để giải thích vì sao thế giới tự do cạnh tranh không lại Trung Cộng dã man, tất cả đều là kiểu che đậy hoặc tự biện minh như vậy.
Ngoại hóa của đạo đức là thể hiện của đạo đức chân thật bên trong
Sự giả dối tinh vi đến đâu cũng không chịu nổi sự phơi bày của thời gian. Tất cả những lời lẽ và hành động của thế giới tự do phương Tây trước sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng, bao gồm cả những phê bình và kiến nghị về nhân quyền mà họ thỉnh thoảng đành phải đưa ra vì sự kiêng dè bề ngoài, sau hơn hai mươi năm mài giũa, thứ duy nhất còn lại trước sau như một chính là: nhận lấy lợi ích kinh tế mà Trung Cộng nhường cho, và nhường lợi ích chính trị cho Trung Cộng.
Những trao đổi lợi ích này đương nhiên từ lâu đã được tính toán rõ ràng, nắm chắc phần thắng. Chỉ có điều, sự bất trung với thành tín thể hiện trên thực tế, sự khiếm khuyết ở tầng bên trong của đạo đức, đồng thời với vẻ đường hoàng ở tầng bên ngoài của đạo đức, lại đang làm tấm gương đạo đức xấu nhất cho xã hội. Đây mới là tổn thương sâu sắc nhất đối với thế giới tự do. Hơn nữa, họ càng làm màu ở hình thức đạo đức bên ngoài thì tổn hại đối với giá trị bên trong của thế giới tự do càng lớn. Đây là điều họ chưa nhận thức được, hoặc không muốn nhận thức.
Không còn sự kiên thủ ở tầng bên trong của đạo đức, mất đi sự ước thúc của tiêu chuẩn đạo đức tự thân, thì hình thức đạo đức bên ngoài không thể lâu bền. Trong thế giới tự do ngày nay, đạo đức xã hội ngày càng xuống dốc đã trở thành vấn đề mọi người công nhận và ngày càng lo ngại, thế nhưng biểu hiện chủ yếu của sự xuống dốc đạo đức, nguyên nhân của sự xuống dốc đạo đức thì chưa ai nói cho rõ ràng.
Kỳ thực, sự tự lừa dối ở tầng bên trong của đạo đức chính là biểu hiện chủ yếu nhất và nguyên nhân căn bản của sự xuống dốc đạo đức. Đương nhiên nguyên nhân dẫn đến sự xuống dốc đạo đức của thế giới tự do là nhiều mặt, nhưng lòng tham bộc lộ ra vì sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng lại đang xói mòn lý niệm giá trị của thế giới tự do một cách tập trung và nhanh chóng nhất, và trong quá trình đó thể hiện sự giả dối đáng kinh ngạc.
Cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Thụy Sĩ Shelby Cullom Davis trong một bài diễn thuyết với chủ đề “Danh dự thiêng liêng” đã chỉ ra: ngày nay ở nước Mỹ, đã không còn tìm được năm mươi sáu con người sẵn lòng lấy sinh mệnh, tài sản ra thề nguyện như những người đã ký bản Tuyên ngôn tự do của nước Mỹ thuở ban đầu nữa. Còn nói đến “danh dự thiêng liêng”, đối với rất nhiều người, điều đó đã xa lạ như thuộc về một thời đại khác, một nền văn hóa khác. Một con người và một xã hội đến với chính mình còn không thể trung thành, thì liệu có còn trung thực với bất kỳ giá trị nào khác, kể cả tín ngưỡng tôn giáo của mình không?
Mình đọc được toàn bộ, dịch tiếp đây (phần đầu Tiết 3 là nội dung mới, phần giữa có trùng với đoạn bạn gửi lần trước nên mình dịch liền mạch luôn cho đầy đủ):
Tiết 3: Sự chiếm đoạt lợi ích không cần chịu trách nhiệm
Patrick Henry, người nổi tiếng với câu “Không tự do thà chết còn hơn”, từng ghi lại tín điều đời mình:
“Giữ sự chân thật và công chính trong mọi giao dịch mà tôi thực hiện. Trong lòng không có ác ý và thù hận. Không tham lợi vặt, cũng không trộm cắp. Không mơ tưởng chiếm đoạt đồ của người khác làm của mình, mà thực sự học tập, lao động để lập thân, tận tâm tận chức để đạt tới cảnh giới nhân sinh mà Thần vui lòng và kêu gọi.”
Ai cũng biết, việc thế giới tự do vào cuối thế kỷ 20 có thể chiến thắng chủ nghĩa cộng sản tàn bạo thì thể chế kinh tế thị trường được xây dựng trên nền tảng công bằng, đối đẳng, nhân đạo, minh bạch, công ích, có trách nhiệm, với ưu thế to lớn về phát triển kinh tế và dân sinh so với chủ nghĩa cộng sản chuyên chế, nô dịch, áp bức, cường quyền, đã đóng vai trò then chốt. Và tín điều nhân sinh như Patrick Henry bày tỏ chính là nền tảng đạo đức cho hoạt động kinh tế của con người trong thế giới tự do.
Trách nhiệm đạo đức và xã hội mà con người phải gánh trong hoạt động kinh tế bị tách rời
Đáng tiếc là, biến động lớn của thế giới cuối thế kỷ 20 vẫn không thể khiến nhân loại nhận thức được tác dụng của nền tảng đạo đức trong hoạt động kinh tế đối với hiệu quả kinh tế của chính hoạt động ấy. Đặc biệt là sau khi pháp nhân công ty xuất hiện và lớn mạnh thành thiết chế khổng lồ nhất thế giới, nó không chỉ tách rời hoàn toàn hoạt động kinh tế của con người khỏi ý nghĩa sinh mệnh của chính họ, mà thậm chí còn tách con người khỏi trách nhiệm đạo đức và xã hội mà họ phải gánh trong hoạt động kinh tế.
Quan hệ và trách nhiệm của con người với tư cách cổ đông đối với công ty phần lớn bị thu hẹp thành quan hệ tiền bạc thuần túy. Công ty kinh doanh tốt hay xấu đối với cổ đông chỉ có ý nghĩa cổ tức nhiều hay ít, còn trách nhiệm của việc kinh doanh đối với xã hội thì hoàn toàn giao cho pháp nhân công ty gánh vác. Những cổ đông không cần chịu trách nhiệm đạo đức và pháp nhân công ty vốn không có cảm thức đạo đức đã khiến con người ngày càng thờ ơ với nền tảng đạo đức của hoạt động kinh tế, khiến truy lợi và bành trướng trở thành mục đích duy nhất của pháp nhân công ty.
Pháp luật trở thành bức bình phong cuối cùng để xã hội ước thúc lòng tham bành trướng của pháp nhân công ty. Vậy thì trong phạm vi con người không nhìn thấy, việc phạm pháp, tham chiếm, dùng đủ danh nghĩa để cưỡng đoạt chiếm lấy chính là phản ánh của sự xuống dốc đạo đức, và cũng là thứ pháp luật không quản nổi.
Sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng không chỉ xúc tác sự thờ ơ với đạo đức này đến cực điểm, mà còn cung cấp cho nó cái cớ không cần chịu trách nhiệm nhất.
Gần hai mươi năm qua, những gì các công ty đa quốc gia, tập đoàn thương mại phương Tây làm ở Trung Quốc đã chứng thực rằng: đủ loại lý do “giúp Trung Quốc phát triển” mà họ nêu ra thuở ban đầu không có cái nào thành hiện thực, kể cả luận điệu Trung Quốc là cơ hội đầu tư tốt đẹp đến đâu cũng đã trở thành sự đánh lừa dân chúng phổ thông phương Tây. Giờ đây ở phương Tây người ta không còn né tránh việc nói rằng Trung Quốc là nền kinh tế kiểu xuất khẩu, hơn nữa là kiểu gia công nguyên liệu, dựa vào giá rẻ để chiếm lĩnh thị trường. Tất cả những điều này đã cho thấy rõ ràng không thể nhầm lẫn: cơ hội thương mại thật sự ở Trung Quốc chính là vắt kiệt sức lao động giá rẻ ở đó.
“Ưu thế nhân quyền thấp” của Trung Quốc là do bạo chính Trung Cộng tạo ra
Một bộ phận truyền thông Mỹ quan tâm, đưa tin về vấn đề lao động giá rẻ Trung Quốc thì phải từ sau năm 2010 mới bắt đầu, mà nguyên nhân không chỉ xuất phát từ sự quan tâm đến người lao động Trung Quốc, mà còn vì chú ý đến nguyên nhân cơ hội việc làm của Mỹ chảy ồ ạt sang Trung Quốc. New York Times từng đưa tin Tổng thống Obama hỏi cựu Tổng giám đốc Apple Steve Jobs làm thế nào để iPhone được sản xuất tại Mỹ, và hỏi vì sao những việc làm đó không thể quay về Mỹ. Jobs nói rằng những cơ hội việc làm đã chảy sang Trung Quốc đó sẽ không bao giờ quay về Mỹ nữa, vì ở Mỹ không tìm được lực lượng lao động tốt như thế.
Thế nhưng, lực lượng lao động ưu tú như vậy, hồi báo mà họ nhận được từ lao động của mình là gì? Foxconn, thuộc công ty Hồng Hải của Đài Loan, nhà cung ứng linh kiện chính của Apple, trong vòng vài tháng liên tiếp có hơn chục nhân viên vì gánh nặng công việc mà nhảy lầu tự sát. Nếu những nhân viên này nhận được đãi ngộ mà họ đáng được hưởng, bi kịch như thế có xảy ra không?
Có không ít người nói rằng, nếu không có đầu tư của phương Tây thì những lao động giá rẻ kia thậm chí còn không nhận được cả mức lương thấp kém đó. Cách nói như vậy không chỉ ngạo mạn, mà còn táng tận lương tâm, thậm chí mang tính kỳ thị. Tiền công của người lao động Trung Quốc, dù là công nhân cổ xanh hay nhân viên cổ trắng, đều bị Trung Cộng cố ý ép xuống thấp, đây là sự thật ai cũng biết. Ngoài tiền lương ra, môi trường lao động, bảo hộ lao động, bảo hiểm y tế, v.v., tất cả những gì liên quan đến phúc lợi hay quyền lợi của người lao động không thứ nào không bị Trung Cộng cố ý dìm xuống. Nếu những tổ chức xã hội và thể chế thực sự đại diện cho lợi ích người lao động được phép tồn tại ở Trung Quốc, thì lao động Trung Quốc có rẻ mạt đến vậy không? Nếu luật sư nhân quyền ở Trung Quốc được phép lên tiếng thay cho nạn nhân, thì gia đình những công nhân thiệt mạng vì các tai nạn sản xuất có thể bị đuổi về chỉ với vài trăm nhân dân tệ không? Nếu các tổ chức bảo vệ môi trường có thể thực sự phát huy tác dụng ở Trung Quốc, thì môi trường lao động của công nhân Trung Quốc có tồi tệ đến thế không? Giới học giả Trung Quốc đã công khai thảo luận về “ưu thế nhân quyền thấp” của Trung Quốc trong cạnh tranh kinh tế thế giới, đủ thấy vấn đề này đã nghiêm trọng và phổ biến đến mức nào. Hiện thực tàn khốc này đương nhiên do bạo chính của Trung Cộng gây ra, nhưng đó lại chính là tiền đề để các công ty đa quốc gia, tập đoàn thương mại phương Tây có thể bóc lột, vắt kiệt lao động giá rẻ ở Trung Quốc.
“Găng tay trắng” của chế độ nô lệ
Vắt kiệt, bóc lột lao động giá rẻ, điều này về bản chất có gì khác với chế độ nô lệ? Ở phương Tây, nơi đã cấm tuyệt chế độ nô lệ từ mấy trăm năm trước, đây là chuyện sẽ khiến người ta thân bại danh liệt. Thế nhưng, đối với các công ty đa quốc gia và tập đoàn thương mại phương Tây, cái hay của cơ hội làm ăn ở Trung Quốc chính là ở chỗ cái tiếng xấu ấy hoàn toàn do Trung Cộng, kẻ chẳng thèm bận tâm, tự nguyện gánh lấy, nên họ sẽ không vì thế mà hỏng danh tiếng hay bẩn tay mình.
Chính vì “ưu thế nhân quyền thấp” do bạo chính Trung Cộng tạo ra trùng khớp với lợi ích bóc lột, vắt kiệt lao động giá rẻ ở Trung Quốc của các công ty đa quốc gia và tập đoàn thương mại phương Tây, cho nên xưa nay, trong mọi phương diện của vấn đề nhân quyền Trung Quốc, những kẻ vận động hành lang tích cực nhất cho Trung Cộng trước các chính phủ phương Tây chính là các công ty đa quốc gia và tập đoàn thương mại này.
Lợi ích của đôi bên hình thành một sự ngầm hiểu: “ưu thế nhân quyền thấp” của Trung Cộng bảo vệ lợi ích và danh tiếng của các công ty đa quốc gia, tập đoàn thương mại; còn sự vận động hành lang của các công ty đa quốc gia, tập đoàn thương mại lại bảo vệ tính bền vững cho “ưu thế nhân quyền thấp” của Trung Cộng.
Quả thực, thuần túy nhìn từ góc độ truy lợi và bành trướng, sự trao đổi và ngầm hiểu với Trung Cộng kiểu này, đối với các công ty đa quốc gia và tập đoàn thương mại, là mô hình vận hành rất lý tưởng: có thể thu lấy lợi nhuận siêu ngạch của chế độ nô lệ một cách hợp pháp, không phải gánh bất kỳ trách nhiệm đạo nghĩa nào. Đây chính là lý do vì sao hơn chục năm qua, thế giới tự do phương Tây, đặc biệt là Mỹ, năm nào cũng thâm hụt thương mại khổng lồ với Trung Quốc, thế mà các công ty đa quốc gia, tập đoàn thương mại kia vẫn miệt mài không chán. Bởi vì, về bản chất, những khoản thâm hụt thương mại khổng lồ ấy không mang ý nghĩa thương mại, mà là phí ủy thác hay phí thuê ngoài mà các công ty đa quốc gia, tập đoàn thương mại kia trả cho Trung Cộng, tên chủ nô! Phí ủy thác hay phí thuê ngoài này càng lớn, lợi nhuận họ kiếm được càng lớn, nên họ miệt mài không chán.
Bị lợi nhuận khổng lồ thúc đẩy, các công ty đa quốc gia, tập đoàn thương mại này thậm chí cam tâm cung cấp kỹ thuật hoặc trực tiếp trợ giúp Trung Cộng bức hại nhân quyền, hạn chế tự do công dân. Còn khi bị chỉ trích vì việc này, họ lại có một cái cớ tuyệt hảo nhất để khỏi chịu trách nhiệm: tuân thủ pháp luật Trung Quốc. Ở phương Tây, pháp luật là bức bình phong cuối cùng để xã hội ước thúc lòng tham bành trướng của pháp nhân công ty. Ở Trung Quốc, Trung Cộng lại trở thành bức bình phong để pháp nhân công ty trốn tránh sự ước thúc của pháp luật!
Kiểu thao tác thương mại vô trách nhiệm này được thể hiện đầy đủ tại phiên điều trần của Quốc hội Mỹ năm 2006 nhắm vào việc Cisco, Yahoo, Microsoft và Google trợ giúp Trung Cộng hạn chế tự do thông tin trên mạng. Trước những cáo buộc nghiêm khắc của các nghị sĩ, những công ty khổng lồ này tỏ vẻ vô tội, nói rằng họ cần chính phủ Mỹ hỗ trợ, vì với tư cách công ty tư nhân, họ không thể đối kháng với chính quyền Trung Cộng. Thế nhưng, xưa nay những kẻ vận động chính phủ Mỹ tích cực nhất để giảm nhẹ áp lực đối với sự bức hại nhân quyền của Trung Cộng chẳng phải chính là những gã khổng lồ này sao?
Đương nhiên, những gì các công ty đa quốc gia, tập đoàn thương mại phương Tây không phải gánh vác ở Trung Quốc còn không chỉ là trách nhiệm về nhân quyền: ô nhiễm môi trường, lãng phí năng lượng, đạo đức thương mại bại hoại v.v., đều có thể đẩy hết lên đầu Trung Cộng mà không phải chịu trách nhiệm. Hai mươi năm qua, câu hỏi mà dân chúng phương Tây hỏi nhiều nhất khi nói đến Trung Cộng là: chẳng phải Trung Quốc đã thực hành chủ nghĩa tư bản rồi sao? Xem ra, câu nên hỏi bây giờ là: thứ chủ nghĩa tư bản vô trách nhiệm hiện nay có còn là chủ nghĩa tư bản trong tâm tưởng của Adam Smith không?
Tiết 4: Truyền thông không cần chịu trách nhiệm về sự thật và công chính
Trong số các công ty đa quốc gia và tập đoàn thương mại phương Tây đua nhau tìm cách tiến vào thị trường Trung Quốc, các công ty truyền thông, bao gồm cả các công ty mạng kiểu mới, là một nhóm đặc biệt. Chúng vừa có giá trị lợi dụng đối với Trung Cộng, vừa cấu thành mối đe dọa tiềm tàng đối với bộ máy loa tuyên truyền mà Trung Cộng khống chế tuyệt đối. Kết cục của việc chúng đánh mất lập trường để hợp tác với Trung Cộng khiến chúng vừa là nạn nhân của trò “bàn mưu lột da hổ với hổ”, vừa là kẻ hại người “tiếp tay cho hổ dữ”.
Công ty truyền thông không phải ngành chế tạo, về cơ bản không thể lợi dụng lao động giá rẻ Trung Quốc, điểm này quyết định rằng các công ty truyền thông phương Tây không kiếm được tiền ở Trung Quốc. Điển hình nhất như Murdoch: đầu tư mấy tỷ đô-la vào Trung Quốc, vắt óc nghĩ cách lấy lòng lãnh đạo Trung Cộng, cuối cùng vẫn phải than thở về thất bại đầu tư ở Trung Quốc.
Các công ty truyền thông phương Tây không nhìn thấu điểm này, lại tưởng rằng chỉ cần không đụng vào vùng cấm tuyên truyền của Trung Cộng thì sẽ có cơ hội kiếm tiền. Nào ngờ, dù họ cố tình nịnh bợ thế nào, đối với Trung Cộng, rốt cuộc vẫn không đáng tin bằng bộ máy loa tuyên truyền do chính Trung Cộng nắm giữ. Màn đấu đá nội bộ mới bị tiết lộ gần đây, việc Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang nâng đỡ Baidu mà đuổi Google khỏi Trung Quốc, đã nói rõ đầy đủ điểm này. Các công ty truyền thông phương Tây cũng không nhìn thấu điểm này, sự nịnh bợ cố tình của họ chẳng những không thu được lợi lộc gì, ngược lại còn khiến bản thân trở thành nạn nhân tự nguyện bị Trung Cộng lợi dụng, và bị Trung Cộng lợi dụng để hại người.
Truyền thông phương Tây bị Trung Cộng lợi dụng để dựng lên đủ loại giả tượng
Giá trị lợi dụng của các công ty truyền thông phương Tây đối với Trung Cộng, trước hết là giúp Trung Cộng dựng lên đủ loại giả tượng trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là giả tượng nhân quyền được cải thiện. Về phương diện này, cha con Murdoch lại là điển hình nhất. Kẻ đầu tiên thực hành tự kiểm duyệt và cổ xúy tự kiểm duyệt chính là cha con Murdoch. Để lấy lòng Trung Cộng, các cơ quan truyền thông dưới trướng News Corporation của Murdoch chủ động cấm đoán, cắt xén các bài báo phê phán Trung Cộng, còn công khai tuyên bố truyền thông nước ngoài ở Trung Quốc thì nên lưu tâm đến cảm nhận của chính phủ Trung Quốc, v.v. Đương nhiên, truyền thông tự kiểm duyệt để lấy lòng Trung Cộng không chỉ có một nhà này. Các hãng truyền thông nước ngoài muốn vào thị trường Trung Quốc hầu như không có ngoại lệ đều đang tự kiểm duyệt, ngay cả Google với tôn chỉ công ty “tuyệt không làm điều ác” cũng từng theo ý chỉ của Trung Cộng mà lọc từ nhạy cảm, còn Microsoft đến nay vẫn đang lọc từ nhạy cảm.
Các công ty truyền thông phương Tây làm như vậy không những đã hoàn toàn đi ngược lại một trong những giá trị căn bản nhất của thế giới tự do phương Tây, tức tự do ngôn luận và xuất bản, mà nạn nhân của nó cũng vượt xa khỏi người Trung Quốc, đó chính là toàn thể độc giả của họ.
Người phương Tây không hẳn ai cũng biết câu chuyện “thẻ tre của Thái Sử”, “ngòi bút của Đổng Hồ” (những sử quan Trung Quốc cổ đại thà chết không chép sai sự thật), nhưng tầm quan trọng của tự do ngôn luận và xuất bản trong hệ giá trị, thể chế dân chủ phương Tây thì nhà nhà đều biết. Bởi vì quyền được biết của dân chúng là nền tảng của dân chủ đại nghị, mà sự lưu thông tự do của thông tin, ý kiến, tin tức là con đường và sự bảo đảm duy nhất để hình thành và phản ánh dân ý, cho nên tự do ngôn luận, xuất bản và dân chủ là không thể tách rời. Người ta hoặc gọi truyền thông là “vua không vương miện”, hoặc gọi là “quyền lực thứ tư”. Jefferson từng nói: nếu phải chọn giữa chính phủ không có báo chí và báo chí không có chính phủ, ông sẽ không do dự chọn cái sau. Rất nhiều học giả cho rằng thứ thực sự bảo đảm chế độ dân chủ chính là tự do ngôn luận và xuất bản. Những điều này đều cho thấy đầy đủ rằng tự do ngôn luận và xuất bản là một trong những giá trị căn bản nhất đối với thế giới tự do phương Tây.
Khi truyền thông phương Tây vì lấy lòng Trung Cộng mà tự kiểm duyệt các bài báo của mình, họ đã hoàn toàn chà đạp giá trị xã hội và công ích của tin tức, biến tin tức thuần túy thành sản phẩm tư hữu của công ty truyền thông. “Sản xuất tin tức” chẳng khác gì sản xuất hàng hóa: sản phẩm tin tức nào cản trở việc kiếm lời của công ty truyền thông thì sẽ bị công ty truyền thông cấm đoán và xóa bỏ; sự cân nhắc hiệu quả kinh tế của tin tức thay thế cho sự quan tâm đến tính khách quan và công chính vốn phải có của tin tức. Điều này với kiểm soát báo chí đã không còn khác biệt căn bản, chẳng qua kiểm soát báo chí là vì nguyên nhân chính trị, còn sự kiểm soát tin tức của công ty truyền thông là vì nguyên nhân kinh tế mà thôi. Và việc truyền thông tự kiểm duyệt các bài báo của mình khiến độc giả không thể biết được sự thật và chân tướng, điều này đã xâm phạm quyền được biết của dân chúng, đã cấu thành lừa dối thông tin (information fraud).
Do sự lừa dối thông tin này, dân chúng thế giới tự do phương Tây biết rất ít về tình hình thật của Trung Quốc, trong khi chịu ảnh hưởng từ tuyên truyền tô vẽ cho Trung Cộng lại đặc biệt nhiều, đến nỗi khi biết được chút ít tình hình thật về sự tồi tệ của nhân quyền Trung Quốc, phản ứng rất phổ biến của dân chúng phương Tây là: “Tôi cứ tưởng nhân quyền Trung Quốc đã tiến bộ nhiều lắm rồi cơ.” Xét từ điểm này, dân chúng phương Tây bị che mắt thậm chí còn hơn cả dân chúng Trung Quốc dưới ách thống trị của Trung Cộng. Ví dụ, học giả và truyền thông Trung Quốc đã thảo luận phổ biến về “ưu thế nhân quyền thấp” trong lao động công nghiệp Trung Quốc, trong khi khái niệm này ở phương Tây hoàn toàn chưa từng có ai nhắc đến trên truyền thông. Tương tự, khi truyền thông Trung Quốc đã công khai thảo luận về “ngoại giao đơn hàng” giữa Trung Quốc và phương Tây, thì truyền thông phương Tây lại hoàn toàn không nhắc đến khái niệm “ngoại giao đơn hàng” này. Như vậy, dân chúng phương Tây đương nhiên không thể hiểu được chân tướng chính sách đối với Trung Quốc của quốc gia họ.
Điển hình của việc hại người mà chẳng lợi mình
Giá trị lợi dụng thứ hai của các công ty truyền thông phương Tây đối với Trung Cộng là tiến hành tuyên truyền lừa dối cho nó trên phạm vi toàn cầu. Việc thổi phồng “mô hình Trung Quốc” như đã nói ở trên là một ví dụ. Cuốn “Truyện Giang Trạch Dân” do Kuhn viết cũng là do Ban Tuyên truyền Trung ương sắp đặt. Việc CCTV có thể tiến vào thị trường phương Tây trên quy mô lớn, càng là kết quả của sự trợ giúp trực tiếp từ Murdoch.
Giá trị lợi dụng thứ ba của các công ty truyền thông phương Tây đối với Trung Cộng là kỹ thuật cao của ngành truyền thông, bao gồm kỹ thuật cao giám sát truyền thông. Việc Cisco giúp Trung Cộng phát triển phần mềm “cảnh sát mạng” mà bị kiện ra tòa đã là chuyện được đưa tin rộng rãi. Việc Murdoch giúp bộ máy loa tin tức của Trung Cộng xây dựng kỹ thuật trang web cũng là điều ai cũng biết. Yahoo thậm chí cung cấp thông tin cho cơ quan an ninh quốc gia của Trung Cộng dẫn đến việc Sư Đào cùng nhiều nhà báo và nhân sĩ dân vận bị bắt.
Tất cả những gì các công ty truyền thông phương Tây khúm núm quỵ lụy làm ra, cuối cùng lại không được như nguyện tiến vào thị trường Trung Quốc, trở thành điển hình của việc hại người mà chẳng lợi mình. Đương nhiên, cá biệt có công ty truyền thông, như News Corporation của Murdoch, ngay cả ở phương Tây cũng chẳng tuân pháp thủ kỷ, vận hành trung thực; thế nhưng, sự sa đọa toàn diện như ở Trung Quốc thì trong ngành truyền thông của thế giới tự do phương Tây chưa từng có.
Tất cả những việc “giúp Trụ làm điều bạo ngược” mà các công ty truyền thông phương Tây làm ở Trung Quốc, họ nhất loạt lấy “quyết định thương mại” ra biện hộ. Tòa án Nuremberg đã xác lập nguyên tắc: mệnh lệnh cấp trên không đủ để miễn trừ tội trách. Chẳng lẽ “quyết định thương mại” thì có thể miễn trừ sao? Huống hồ, tất cả những điều này đích thực được tiến hành dưới “mệnh lệnh cấp trên” của Trung Cộng.
Tiết 5: Học thuật và học giả không còn độc lập
Sự xói mòn của Trung Cộng đối với nhân cách độc lập và tư tưởng độc lập của học giả phương Tây
Nhân cách độc lập, tư tưởng độc lập, tinh thần phê phán và cảm thức trách nhiệm xã hội, đây đều là quan niệm giá trị và phẩm cách quý báu mà người trí thức phải có, càng là điều mà các học giả Trung Quốc bị giày xéo lâu năm kính phục, ngưỡng mộ ở học giả phương Tây. Giờ đây, sự uy hiếp và dụ dỗ bằng lợi ích của Trung Cộng khiến nhiều học giả phương Tây nghiên cứu vấn đề Trung Quốc cũng không thể giữ được phẩm cách vốn phải có của họ.
Là học giả nghiên cứu vấn đề Trung Quốc, họ thuộc nhóm người hiểu rõ vấn đề Trung Quốc nhất. Ngay từ năm 2002, nhà Hán học nổi tiếng Perry Link (Lâm Bồi Thụy) đã viết bài “Trung Quốc, con trăn khổng lồ trong chùm đèn treo” chỉ ra: “Người ta phải nhận thức lại một sự thật căn bản nhất: tầng lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản, giống như trước đây, nhiệm vụ hàng đầu không phải là phát triển kinh tế, công bằng xã hội, địa vị quốc tế của Trung Quốc hay các mục tiêu vì toàn dân khác, mà là nắm chặt quyền lực của chính mình.”
Là học giả nghiên cứu vấn đề Trung Quốc, họ cũng hiểu rõ nhất Trung Cộng lợi dụng những học giả chịu khuất phục hợp tác và đàn áp những học giả kiên trì nhân cách độc lập như thế nào. Trong cuộc thảo luận kéo dài từ tháng 9/2011 trên trang web New York Times về chủ đề “Học giả Mỹ phải kháng cự sự khống chế của Trung Quốc như thế nào?”, Giáo sư Larry Shinagawa của Đại học Maryland chỉ ra: “Nói đến phần về Trung Quốc, nhất định có những học giả bị đưa vào danh sách đen. Họ có thể là người nghiên cứu vấn đề dân tộc thiểu số, hoặc học giả nghiên cứu vấn đề ô nhiễm của Trung Quốc; họ có thể bị quan chức Trung Quốc đưa vào danh sách đen. Hãy tưởng tượng bạn đang xây dựng cả sự nghiệp học thuật, mà đối tượng nghiên cứu của bạn chính là Trung Quốc, nhưng lại không được phép vào Trung Quốc, điều này sẽ vô cùng khó khăn. Cho nên đôi khi phạm vi nghiên cứu của bạn bị hạn chế rất nhiều, và cũng không thể viết ra sự thật như bạn mong muốn.”
Khi các học giả không thể viết ra kết quả nghiên cứu chân thật của họ, hậu quả, do xã hội nói chung tin tưởng học giả, lại trở nên rất nghiêm trọng. Nhà kinh tế học Hà Thanh Liên trong lời tựa bản hiệu đính cuốn “Cạm bẫy hiện đại hóa của Trung Quốc” từng chỉ ra:
“‘Tăng trưởng kinh tế’ giờ đây cấu thành nền tảng tính chính danh của chính phủ, cũng trở thành căn cứ để không ít học giả nước ngoài, những người vui lòng hợp tác với chính phủ Trung Quốc trong các dự án nghiên cứu, giữ cái nhìn lạc quan về sự phát triển của Trung Quốc. Còn đặc điểm chính phủ Trung Quốc làm giả số liệu thống kê theo thói quen thì bị những học giả này, vì một số cân nhắc lợi ích, cố ý bỏ qua.
Trong quá trình cải cách mở cửa, chính phủ Trung Quốc đã học được cách dùng khống chế lợi ích để khiến cộng đồng quốc tế hình thành dư luận có lợi cho Trung Quốc. Một số học giả có chính nghĩa cảm vì đạo nghĩa mà phê bình chính phủ Trung Quốc, do đó bị chính phủ Trung Quốc từ chối cấp thị thực nhập cảnh, nhiều năm không thể vào Trung Quốc, ảnh hưởng đến sự nghiệp học thuật của họ. Kiểu đả kích gián tiếp này trên thực tế đã có tác dụng ‘dẫn dắt dư luận’: một số học giả nghiên cứu Trung Quốc khác, đặc biệt là học giả gốc Hoa, phát hiện rằng ca ngợi Trung Quốc có thể giành được thiện cảm của chính phủ Trung Quốc, được vào Trung Quốc khảo sát, và nhận được từ các cơ quan chính phủ Trung Quốc một số tài liệu mà chính họ cũng biết rõ là không chân thật, mà đây lại là điều kiện tất yếu để họ có được quỹ nghiên cứu, cũng là ‘vốn liếng’ để họ giành địa vị trong giới học thuật.
Thế là giữa chính phủ Trung Quốc và những học giả này hình thành một ‘vòng tuần hoàn’ đáng chú ý: chính phủ Trung Quốc, kẻ lũng đoạn mọi nguồn cung thông tin, là nhà cung cấp quyền uy của mọi tài liệu nghiên cứu; còn nghiên cứu mà một số học giả nước ngoài làm dựa trên những tài liệu này, bất kể cách hiện thực Trung Quốc bao xa, lại được chính phủ Trung Quốc chọn lọc đăng tải trên ‘Tham khảo Tiêu tức’ và đủ loại bài báo giới thiệu nghiên cứu Trung Quốc ở nước ngoài. Chính phủ Trung Quốc mượn đó chứng minh với dân chúng nước mình rằng thành tựu xây dựng kinh tế Trung Quốc đã được nghiên cứu học thuật của học giả nước ngoài luận chứng và công nhận! Trong đại bộ phận công chúng Trung Quốc, những người bề ngoài thì tình cảm dân tộc chủ nghĩa dâng cao, thực chất thì tự ti sâu sắc trước văn minh phương Tây, ‘luận chứng khoa học’ của học giả nước ngoài vẫn có thị trường đáng kể. Đương nhiên, quan hệ lợi ích giữa chính phủ Trung Quốc và những học giả nước ngoài này, vốn trao cho nhau ‘tính hợp lý’ về tài liệu và luận chứng, đối với các học giả rốt cuộc chẳng vẻ vang gì, cho nên bị che giấu rất sâu.”
Vấn đề bị che giấu rất sâu này nghiêm trọng đến mức nào? Giáo sư xã hội học, nhà kinh tế học Carsten A. Holz của Đại học Khoa học Kỹ thuật Hồng Kông từng viết một bài với tiêu đề: “Các học giả nghiên cứu Trung Quốc có phải toàn bộ đã bị mua chuộc?”. Trong bài, tác giả rất thẳng thắn nói rằng, bao gồm cả chính ông, các học giả nghiên cứu Trung Quốc theo thói quen lấy lòng Trung Cộng, có lúc là có ý thức, nhưng thường là vô thức.
Tác giả cũng rất thẳng thắn nói ra nỗi khổ tâm của những học giả này: “Học giả nước ngoài nghiên cứu Trung Quốc, để tiện thu thập số liệu, phải hợp tác với học giả đại lục. Một số học giả phương Tây có thân nhân, có nhà đất ở Trung Quốc. Tiếng mẹ đẻ của họ không phải tiếng Hán, họ đã bỏ nhiều năm học tiếng Trung, xây dựng sự nghiệp của mình trên một khoản đầu tư khổng lồ không thể chuyển dời. Chúng tôi hưởng lợi từ các mối quan hệ của mình ở Trung Quốc, từ đó có được thông tin, quan điểm và nội tình, vì thế chúng tôi phải bảo vệ những mối quan hệ này. Kết quả là ai nấy đều vui: độc giả phương Tây có được quan điểm mới nhất của giới học thuật, bản thân chúng tôi có được thành công sự nghiệp, còn Trung Cộng có được sự quảng cáo tuyên truyền mà chúng tôi cung cấp cho họ. Về mặt khen thưởng và răn đe giới trí thức, Trung Quốc khá độc đáo: toàn thể giới trí thức đều chọn cùng một con đường, đó là đừng đắc tội với Trung Cộng.”
Những học giả bị coi là xúc phạm Trung Cộng thì bị đưa vào danh sách đen những người bị Trung Quốc cấm nhập cảnh. Trong cuộc thảo luận “Học giả Mỹ phải kháng cự sự khống chế của Trung Quốc như thế nào” nói trên, Giáo sư James Millward của Học viện Ngoại giao Đại học Georgetown chỉ ra hai học giả Mỹ là Andrew Nathan (Lê An Hữu) và Perry Link (Lâm Bồi Thụy) đã bị đưa vào danh sách đen. Đồng thời, 13 học giả, bao gồm cả Millward, cũng vì cuốn sách hợp tác xuất bản năm 2004 “Tân Cương: Biên cương Hồi giáo của Trung Quốc” mà bị đưa vào danh sách đen những người bị Trung Quốc cấm nhập cảnh.
Những lời dối trá bọc trong lớp áo “học thuật”
Ảnh hưởng của Trung Cộng đối với giới học thuật còn vượt xa kiểu uy hiếp nói trên. Hà Thanh Liên trong bài “Cảnh giác với những lời dối trá bọc trong lớp áo ‘học thuật'” chỉ ra: “Chính phủ Trung Quốc từng quy định rõ hai điểm trong «Chi tiết thi hành Luật Thống kê» và «Biện pháp tạm thời quản lý hoạt động điều tra xã hội có yếu tố nước ngoài»: thứ nhất, tổ chức, cá nhân ngoài lãnh thổ Trung Quốc khi cần tiến hành hoạt động điều tra thống kê trong lãnh thổ Trung Quốc, không được tự mình điều tra, mà phải ủy thác cho cơ quan trong lãnh thổ Trung Quốc có tư cách điều tra thống kê liên quan nước ngoài tiến hành. Mà cái ‘tư cách điều tra’ này phải do Phòng quản lý điều tra dân gian và liên quan nước ngoài của Cục Thống kê Quốc gia thẩm tra phê chuẩn; thứ hai, toàn bộ số liệu tài liệu thu được từ điều tra, trước khi giao cho bên ủy thác ngoài lãnh thổ, phải qua cơ quan chính phủ thẩm duyệt đồng ý. … Phàm người đầu óc còn bình thường đều nên biết: chim dạ oanh dưới móng vuốt mèo không thể hót ra khúc ca hay. Kiểu ‘điều tra nghiên cứu’ dưới sự khống chế nghiêm ngặt của chính phủ Trung Quốc này, cùng những số liệu và kết luận đã qua chính phủ thẩm duyệt, còn bao nhiêu phần chân thật, thì thật chỉ có trời mới biết.”
Trung Cộng dùng lợi ích để uy hiếp và dụ dỗ còn không chỉ là học giả. Các trường đại học nơi những học giả bị đưa vào danh sách đen làm việc không muốn đứng ra tranh luận có lý có lẽ với Trung Cộng, vì họ muốn thu hút sinh viên Trung Quốc đến du học. Năm 2006, tạp chí “National Geographic” của Mỹ đặt bài học giả của Đại học Boston, nhà văn Trung Quốc Cáp Kim (Ha Jin); bài đặt viết “Kiểm duyệt báo chí ở Trung Quốc” này được chuẩn bị cho số đặc san về Trung Quốc tháng 5/2008 của tạp chí. Nào ngờ, khi tạp chí này năm 2007 tìm được đối tác hợp tác ở Trung Quốc và chuẩn bị phát hành tại Trung Quốc, thì liền hủy bài đặt viết của Cáp Kim.
Có lúc, nhu cầu chính trị của Trung Cộng còn biểu hiện ra theo cách vòng vo, ảnh hưởng đến đề tài nghiên cứu của các học giả. Mấy năm sau 1999, bầu cử cấp cơ sở ở Trung Quốc từng là đề tài nóng trong nghiên cứu của học giả Mỹ, được cho là biểu hiện Trung Cộng đi về phía dân chủ hóa, và trở thành đề tài được báo chí Mỹ cho đến Quốc hội Mỹ quan tâm. Khi ấy, trọng điểm cấp kinh phí của Quỹ Quốc gia vì Dân chủ Mỹ (NED) cũng là đề tài này. Nguyên nhân bên trong, có lẽ không ai làm rõ được, nhưng có một điểm có thể khẳng định: nghiên cứu của những học giả ấy giờ đây đã hoàn toàn vô giá trị, còn khoản kinh phí của Quỹ Dân chủ cũng đổ sông đổ bể.
Điều cần chỉ ra ở đây là sự xói mòn của Trung Cộng đối với nhân cách độc lập và tư tưởng độc lập của học giả phương Tây lại phải nhờ những học giả phương Tây cá biệt dũng cảm công khai thừa nhận nhược điểm của mình mới được vạch trần trực tiếp. Perry Link, Carsten Holz nhắc đến ở trên chính là những học giả như vậy.
Ở đây không thể không nhắc đến Giáo sư John King Fairbank (Phí Chính Thanh), người được tôn là “nhà thông thạo Trung Quốc số một”. Nghiên cứu của Fairbank về sự hưng khởi và phát triển của Trung Cộng đã ảnh hưởng đến mấy thế hệ nhà Hán học phương Tây. Cuộc đại thảm sát “Lục Tứ” đã đánh vỡ nhận thức từng lãng mạn kiêm lý tưởng của ông về Trung Cộng, vì thế ông viết “Fairbank bàn về Trung Quốc: Tân sử Trung Quốc”, trước tác cuối cùng của đời ông.
Trong trước tác này, ông sửa đổi trên diện rộng những nhận thức sai lầm trước đây của mình về Trung Cộng, công khai thừa nhận tâm lý “ái quốc thứ hai” hay “yêu Trung Quốc”, tức che đậy giấu giếm cho Trung Quốc, của mình trong quá khứ, đồng thời chỉ ra rằng các nhà Hán học phương Tây có một chứng bệnh nghề nghiệp: không chịu phơi bày mặt xấu của đối tượng mà họ nghiên cứu. Sự tự trách công khai và nghiêm khắc như vậy thể hiện lương tri của người học giả. Sáng ngày 12/9/1991, Giáo sư Fairbank đưa bản thảo cuốn sách này đến Nhà xuất bản Đại học Harvard; chiều hôm đó ông tái phát bệnh tim và qua đời hai ngày sau.
Các học giả phương Tây nghiên cứu Trung Quốc ngày nay đối mặt với khốn cảnh và áp lực lớn hơn thời Fairbank rất nhiều; lòng dũng cảm dám tự kiểm điểm của họ càng đáng quý hơn. Sau khi kể ra hàng loạt trường hợp các học giả nghiên cứu Trung Cộng khuất phục trước Trung Cộng, đi ngược nhân cách độc lập của người học giả, Giáo sư Holz viết:
“Rõ ràng chúng tôi biết có tồn tại các trại lao cải, người ta chưa qua xét xử đã bị nhốt vào đó, có lẽ bốc hơi ngay trong đó. Chúng tôi biết có người bị cơ quan an ninh quốc gia tra tấn. Chúng tôi biết cách các học viên Pháp Luân Công bị xử lý, nhưng chúng tôi chọn nhìn về phía trước, tiếp tục việc nghiên cứu và giảng dạy đã được khử trùng của mình. Chúng tôi nhắm mắt làm ngơ trước ba mươi triệu người chết vì nạn đói do Đại Nhảy Vọt gây ra bởi thể chế chính trị Trung Quốc, trước 750 nghìn đến 1,5 triệu người bị sát hại trong Cách mạng Văn hóa. Điều gì mới có thể khiến giới học thuật phương Tây dừng lại mà nghĩ: rốt cuộc họ đang chung chăn gối với ai?”
“Nếu giới học thuật không nghĩ, thì còn ai sẽ nghĩ? Ngân hàng Thế giới và các tổ chức quốc tế khác cũng không, vì họ thu lợi từ việc giao thiệp với Trung Quốc. Quan hệ ngân hàng của họ phụ thuộc vào sự hợp tác chặt chẽ của Trung Cộng; sự thật trong hợp tác nghiên cứu của họ là: báo cáo cuối cùng và tuyên bố công khai đều phải qua sự kiểm duyệt của Trung Cộng. Bộ phận nghiên cứu của các ngân hàng đầu tư phương Tây cũng không, vì các bộ phận khác của ngân hàng rất có thể phụ thuộc vào việc mua bán với Trung Quốc.
“Tất cả những điều này có quan trọng không? Nếu người làm nghiên cứu Trung Quốc bỏ qua môi trường chính trị Trung Quốc mà họ đang ở trong đó, bỏ qua những hạn chế chính trị ảnh hưởng đến công việc nghiên cứu của họ, thì tất cả những điều này có quan trọng gì? Nếu chúng tôi trình bày với phương Tây một Trung Quốc mà tầng lãnh đạo Trung Cộng chắc chắn thích chúng tôi trình bày, đưa ra những câu trả lời hạn hẹp cho những câu hỏi nghiên cứu đã qua tự kiểm duyệt, vẽ nên một bức tranh hợp lẽ thường về chế độ chính trị Trung Quốc, thì tất cả những điều này có quan trọng gì?
“Xét từ góc độ sức mua, quy mô kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ vào năm 2008 hoặc 2009. Trung Quốc là một quốc gia ngày càng liên quan mật thiết với các nền kinh tế phương Tây: 1/4 công nghiệp Trung Quốc thuộc sở hữu nước ngoài; chúng ta phụ thuộc vào công nghiệp Trung Quốc để chế tạo hàng tiêu dùng giá rẻ. Cuối cùng, tiền hưu trí của chúng ta đầu tư vào các công ty đa quốc gia, mà các công ty đa quốc gia này ngày càng chọn sản xuất tại Trung Quốc, tiền hưu trí của chúng ta phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Thế nhưng phương Tây có hiểu quốc gia ấy và những kẻ thống trị nó không? Đến khi nào, qua kênh nào, quan niệm nhân quyền và dân quyền dị biệt của tầng lãnh đạo Trung Cộng sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính thể và tự do chính trị của phương Tây chúng ta (giống như đã ảnh hưởng đến nghiên cứu học thuật và giảng dạy của phương Tây)? Ở mức độ nào, các học giả làm nghiên cứu Trung Quốc cảm thấy hổ thẹn vì họ đã đặt bát cơm của mình lên trên sự suy nghĩ và giảng dạy trung thực?”
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/8/7/n3653797.htm
Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.
Từ khi cuốn sách