Chương 13: Lòng tham của nhân loại — Sự sụp đổ của văn minh (Phần hạ)
Tiết 7: Người lãnh đạo thế giới tự do đánh mất lý tưởng quốc gia
Việc thế giới tự do vì lòng tham mà giao dịch với Trung Cộng, nước Mỹ phải chịu trách nhiệm chính
Với tư cách người lãnh đạo thế giới tự do, nước Mỹ phải chịu trách nhiệm chính về việc thế giới tự do vì lòng tham mà từ bỏ giá trị phổ quát để giao dịch với Trung Cộng. Giới tinh hoa Mỹ có thể cảm thấy: bắt nước Mỹ đối địch với chính quyền Trung Cộng, gánh nặng này quá lớn, yêu cầu quá cao. Kỳ thực, những vấn đề nước Mỹ đối mặt hôm nay, các bậc tiên khu của họ từ lâu đã để lại tiền lệ ứng phó.
- Lý tưởng quốc gia là thứ căn bản nhất của nước Mỹ
So với các quốc gia khác trên thế giới, tính độc đáo của nước Mỹ nằm ở chỗ: nó không được xây dựng trên nền tảng lịch sử, văn hóa, thị tộc, địa duyên hay bất kỳ hoàn cảnh bên ngoài hoặc vật chất nào khác, mà được xây dựng trên nền tảng lý niệm bên trong. Nghĩa là, nguồn gốc của nước Mỹ là thuộc về tinh thần, đạo nghĩa, giá trị. Vì thế, nước Mỹ có lý tưởng quốc gia của nó. Lý tưởng quốc gia này đại diện cho tinh thần toàn thể của người Mỹ, là thứ căn bản nhất của nước Mỹ, là giá trị chính nghĩa không thể đi ngược. Lịch sử hơn hai trăm năm sau khi lập quốc của nước Mỹ chính là quá trình thực hành xem nó có tuân theo lý tưởng quốc gia của mình hay không. Bất kể người Mỹ có nhận thức rõ điều này hay không, quá trình thực hành ấy đã cho thấy: một khi lệch khỏi lý tưởng quốc gia, xã hội Mỹ sớm muộn sẽ bị nó quấy nhiễu mà bất an.
Vì lý tưởng quốc gia này là thứ căn bản nhất, thực chất nhất của nước Mỹ, điều đó quyết định chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ. Tuy các nước khác trên thế giới đều có thể “nhân danh lợi ích quốc gia” mà mưu tính, thủ lợi; theo một nghĩa nào đó, những người từ bỏ đạo nghĩa phổ biến đánh đồng “lợi ích quốc gia” với “lý tưởng quốc gia”, do đó cho rằng hai thứ này thường không mâu thuẫn, nhưng nước Mỹ không thể “nhân danh lợi ích quốc gia” mà mưu lợi; đặc biệt khi lý tưởng quốc gia và lợi ích quốc gia của Mỹ tỏ ra không nhất trí, thì không thể như các nước khác bỏ nghĩa lấy lợi. Trong lịch sử, nước Mỹ từng đối mặt nhiều lần với cơ hội có thể thu được lợi ích quốc gia lớn hơn, nhưng cuối cùng lại quyết sách theo lý tưởng quốc gia, chứ không tham những lợi ích ấy. Đây chính là lý do vì sao nước Mỹ được kính trọng trên thế giới, vì sao nước Mỹ trở thành người lãnh đạo thế giới tự do, cũng là lý do những chính trị gia Mỹ quyết sách theo lý tưởng quốc gia được lưu danh thanh sử.
Tính độc đáo của nước Mỹ rất nhanh đã thu hút sự chú ý của thế giới. Năm 1831, nửa thế kỷ sau khi Mỹ lập quốc, người Pháp Tocqueville đến khảo sát nước Mỹ, và viết nên tác phẩm nổi tiếng «Bàn về nền dân chủ Mỹ», quan sát sắc bén, phân tích sâu sắc và ca ngợi cao độ thể chế cùng lý tưởng của nước Mỹ. Kỳ thực, khi Tocqueville khảo sát nước Mỹ, nhiều sự kiện phản ánh, thử thách, củng cố lý tưởng quốc gia Mỹ còn chưa xảy ra. Ví dụ, ngay một năm trước khi Tocqueville xuất bản quyển hạ của «Bàn về nền dân chủ Mỹ», nước Mỹ xảy ra vụ án tàu chở nô lệ Amistad, về sau được đưa vào sách giáo khoa tiểu học của Mỹ đã thể hiện đầy đủ rằng người Mỹ thực hành lý tưởng quốc gia của mình một cách nghiêm túc.
- Vụ án Amistad
Amistad vốn là chiếc thuyền buồm hai cột do Mỹ chế tạo, sau bị người Tây Ban Nha mua đi. Năm 1839, tàu Amistad xuất phát từ Cuba, thuộc địa Tây Ban Nha lúc bấy giờ; năm mươi ba nô lệ trên tàu nổi dậy, giết chết thuyền trưởng cùng tùy tùng áp giải nô lệ, chỉ để lại hai người, buộc hai người này đưa họ trở về Tây Phi. Hai người Tây Ban Nha này ban ngày lái tàu về hướng Tây Phi, ban đêm lại lái ngược trở lại; cứ lòng vòng qua lại như thế, như có ma xui quỷ khiến, con tàu được lái đến New York, làm bùng lên một vụ kiện nổi tiếng kéo dài lên tận Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.
Vụ kiện này, nhìn từ bất kỳ góc độ hiện thực, công lợi nào, những nô lệ kia đều tất thua. Về quốc tế, quan hệ với đế quốc Tây Ban Nha hùng mạnh là lợi ích quốc gia mà nước Mỹ lúc ấy cần cân nhắc nhất. Chính phủ Van Buren không muốn vì một con tàu nhỏ mà đắc tội với đế quốc Tây Ban Nha hùng mạnh, đã đồng ý yêu cầu của Nữ hoàng Tây Ban Nha, trao trả tàu Amistad cùng các nô lệ trên tàu cho Tây Ban Nha.
Về đối nội, hai miền Nam-Bắc nước Mỹ vì vấn đề nô lệ ngày càng gươm tuốt cung giương, bất kỳ động tĩnh nhỏ nào cũng có thể gây biến động lớn cho cục diện. Về pháp luật, thẩm phán các cấp tòa án đều do tổng thống bổ nhiệm, lẽ ra phải cân nhắc lập trường của chính phủ; đặc biệt, chín đại thẩm phán Tối cao Pháp viện thì năm vị là từ các bang nuôi nô lệ miền Nam. Then chốt nhất là, những nô lệ ấy không nói tiếng Anh, cũng không người Mỹ nào nghe hiểu ngôn ngữ của họ, nghĩa là, những nô lệ ấy từ đâu đến căn bản không ai biết. Nếu người Mỹ trao trả họ cho Tây Ban Nha, trên thế giới sẽ không ai hay biết, toàn bộ sự việc sẽ không để lại bất kỳ dấu vết nào.
Thế nhưng, những người Mỹ ngây thơ mà nghiêm túc lại nhất quyết tìm nhà ngôn ngữ học từ trường đại học, tìm hiểu rõ cách phát âm từ một đến mười, rồi đến khu người da đen tụ cư ở New York không ngừng đọc đi đọc lại mười con số ấy, tìm được người da đen biết nói thứ tiếng này để làm phiên dịch, làm rõ được năm mươi ba nô lệ ấy đến từ Sierra Leone ở Tây Phi. Người Mỹ mời một cựu tổng thống (John Quincy Adams) làm luật sư cho họ. Cứ từng bước từng bước như thế, họ giành được tự do cuối cùng cho những người xa lạ mà họ căn bản không quen biết, thậm chí ban đầu còn không biết đến từ phương nào, không có bất kỳ địa vị và thế lực nào, với cái giá là quan hệ với đế quốc Tây Ban Nha xấu đi trong mấy chục năm sau đó.
Vụ kiện hoàn toàn đi ngược “lợi ích quốc gia” của Mỹ này, lại thể hiện tốt nhất người Mỹ đã kiền thành thực hành lý tưởng quốc gia của mình như thế nào. Khi nước Mỹ dốc toàn lực bảo vệ tự do của những người không có sức tự vệ, nước Mỹ đồng thời tuyên cáo với toàn thế giới sự kiên định bảo vệ tự do của mình. Khi nước Mỹ lớn tiếng biện hộ cho những người không có sức lên tiếng, nước Mỹ rõ ràng đã chứng thực tính chính đáng đạo nghĩa của quốc gia mình. Khi nước Mỹ bảo vệ người lương thiện khỏi bị ức hiếp, nước Mỹ đã chứng thực với Đấng Tạo Hóa của mình rằng bản thân nước Mỹ xứng đáng được Thần phù hộ.
Sáu mươi năm sau vụ án Amistad, Mỹ và Tây Ban Nha cuối cùng khai chiến. Trong một trận sương mù dày đặc, tình huống đôi bên hoàn toàn không nhìn thấy nhau, hạm đội hải quân Mỹ quyết định xếp hàng dọc chạy qua, các tàu lần lượt bắn một loạt pháo. Sau đó, trong tình huống chiến quả chưa rõ, bỗng truyền đến tin hạm đội Tây Ban Nha đầu hàng. Trong lúc kinh ngạc, chánh phó tư lệnh hạm đội Mỹ hỏi nhau: “Là chúng ta thật sự lợi hại đến thế, hay chúng ta quá may mắn?” Người Mỹ thường nói Thượng Đế phù hộ nước Mỹ. Nước Mỹ thời kỳ đầu lịch sử nghiêm túc thực hành lý tưởng quốc gia của mình, quả thực mọi việc đều thuận lợi.
- Cách hiểu về nội chiến Nam-Bắc
Ba mươi năm sau vụ án Amistad, nước Mỹ vì bảo vệ tự do của những người không có sức tự vệ, hai miền Nam-Bắc thực sự đánh một cuộc nội chiến. Vấn đề nô lệ, ngay từ lúc nước Mỹ lập quốc, khởi thảo Tuyên ngôn Độc lập, đã là một thách thức về đạo đức. Ví dụ, Franklin, người có tác dụng to lớn đối với cả nền độc lập của Mỹ lẫn việc khởi thảo Hiến pháp, ngay từ lúc nước Mỹ lập quốc đã phản đối chế độ nô lệ, và trong hai tháng cuối của cuộc đời 84 năm còn chính thức đệ trình lên lưỡng viện Quốc hội Mỹ đề án bãi bỏ chế độ nô lệ, “để trừ bỏ chỗ không phù hợp với tinh thần nước Mỹ này.”
Trong 87 năm sau khi nước Mỹ lập quốc, chế độ nô lệ, vết nhơ đối với lý tưởng quốc gia Mỹ này, khiến xã hội Mỹ ngày càng bị quấy nhiễu mà bất an, cuối cùng dẫn đến nội chiến Nam-Bắc. Có người nói nội chiến Nam-Bắc là vì miền Nam độc lập. Nhưng miền Nam vì sao muốn độc lập? Nếu miền Bắc từ bỏ phản đối chế độ nô lệ, miền Nam có độc lập không? Cũng có người nói miền Nam chỉ đang hành sử quyền lợi của họ với tư cách các bang. Vậy quyền lợi của các bang miền Nam lại từ đâu mà ra? Chẳng phải cũng bắt nguồn từ điều “Tuyên ngôn Độc lập” tuyên bố “mọi người đều được Đấng Tạo Hóa sáng tạo bình đẳng” sao? Chẳng phải cũng là “đến từ sự đồng ý của người bị trị” sao?
Cuộc chiến này không được coi là cuộc chiến của các chủ nô miền Nam chống lại lý tưởng nước Mỹ, mà được coi là cuộc chiến kiểm nghiệm xem lý tưởng quốc gia của Mỹ có thể trường tồn hay không, bởi vì các bang miền Nam cũng lấy tinh thần lập quốc và Hiến pháp Mỹ làm căn cứ cho nền độc lập của họ. Quả thực, Tổng thống Lincoln trong bài diễn văn Gettysburg bất hủ của ông đã truy điệu, tôn vinh ngang nhau các tướng sĩ tử nạn của cả hai bên tham chiến. Chẳng qua là hai bên hiểu khác nhau về lý tưởng quốc gia, và vì cách hiểu đúng đắn nhất, vì lý tưởng quốc gia có thể trường tồn, nước Mỹ đã xảy ra cuộc chiến tranh thương vong thảm khốc nhất trong lịch sử nước Mỹ. Từ đó có thể thấy, lý tưởng quốc gia đối với nước Mỹ trọng yếu nhường nào.
Qua trận chiến này, nước Mỹ đã xác lập trước địa vị lãnh đạo thế giới tự do tương lai của mình. Thời điểm ấy, thế giới tự do về sau còn chưa thực sự xuất hiện. Ngoài vài chính thể quân chủ lập hiến cá biệt như Anh, Pháp, phần lớn thế giới vẫn là các đế quốc; chiến tranh trên thế giới tuyệt đại đa số vẫn là chiến tranh tranh lợi giữa các đế quốc. Ngay cả hai nước Anh, Pháp, tầng lớp quý tộc của họ cũng ủng hộ các bang miền Nam nước Mỹ, và từng có lúc muốn thông qua áp lực ngoại giao giúp miền Nam độc lập. Đủ thấy khoảng cách giữa cả thế giới lúc bấy giờ với nước Mỹ về tư duy đạo đức quốc gia lớn đến đâu. Còn nước Mỹ vừa kết thúc nội chiến Nam-Bắc, liền lập tức giúp Mexico thoát khỏi ách thống trị thực dân của Áo, giành lại độc lập.
- Mọi tự do mà thế giới giành được đều có sự đóng góp của nước Mỹ
Sau nội chiến Nam Bắc, còn phải qua nửa thế kỷ nữa nước Mỹ mới thực sự bước lên vũ đài quốc tế. Do người Mỹ bẩm sinh cảnh giác với chính phủ hùng mạnh, nước Mỹ thời kỳ đầu luôn không phát triển quân đội và quân bị. Đồng thời, do lời khuyên răn của Tổng thống Washington khi rời nhiệm sở, bảo người Mỹ lo tốt việc của mình, đừng can dự vào những tranh chấp lợi ích xa xôi ở châu Âu, nước Mỹ trong 150 năm đầu về cơ bản chỉ chú tâm vào sự phát triển của chính mình.Dù vậy, khí thế chính nghĩa của lý tưởng quốc gia Mỹ vẫn ngăn chặn được các thế lực độc tài, giúp tự do lan rộng trên thế giới. Thập niên 1820, các quốc gia châu Mỹ vừa giành độc lập từ mẫu quốc châu Âu đối mặt nguy cơ bị khôi phục thành thuộc địa; trước tình hình ấy, năm 1823, vị tổng thống thứ năm của Mỹ ban bố “Học thuyết Monroe” nổi tiếng, tuyên bố bất kỳ hành vi thực dân mới nào ở châu Mỹ, nước Mỹ đều sẽ can thiệp. Kỳ thực, lúc ấy nước Mỹ căn bản không có lực lượng lục quân, hải quân cần thiết để thực hiện can thiệp, nhưng đắc đạo đa trợ (người có đạo nghĩa được nhiều người giúp): lập trường chính nghĩa của Mỹ được các quốc gia châu Mỹ cảm tạ, được nước Anh ủng hộ, từ đó bảo vệ được tự do của nhiều quốc gia châu Mỹ.
Người đời sau bình luận rằng mọi tự do mà thế giới giành được đều có sự đóng góp của nước Mỹ, lời này không sai.
Thế chiến thứ nhất, nước Mỹ chần chừ mãi không muốn bước lên vũ đài thế giới, cuối cùng vì tàu ngầm Đức tấn công tàu buôn Mỹ mà bị cuốn vào chiến trường châu Âu. Sau đó, Tổng thống Wilson, nhắm vào cục diện chính trị quốc tế nơi các nước châu Âu chỉ mưu cầu lợi ích, đã đề xuất “14 điểm Wilson” công chính; điều thứ nhất nêu ra chính là phản đối ngoại giao phòng kín, được các bên quốc tế nhất trí ủng hộ, và dựa theo “14 điểm Wilson” mà thành lập “Hội Quốc Liên” (League of Nations). Khi đàm phán các vấn đề bồi thường chiến tranh sau Thế chiến thứ nhất, Wilson cùng đoàn đại biểu Mỹ khổ sở khuyên nhủ bên thắng trận đừng quá khắc nghiệt: oán oán tương báo sẽ gieo mầm chinh chiến về sau. Bất hạnh thay, một mặt lòng tham của nhân loại thực sự quá mạnh, mặt khác người Mỹ thực sự quá không tình nguyện bị kéo lên vũ đài thế giới; kết quả Hòa ước Versailles gieo mầm phục thù cho người Đức, còn Quốc hội Mỹ không phê chuẩn việc Mỹ gia nhập Hội Quốc Liên. Người đời sau bình luận rằng hai điều này đã dẫn đến Thế chiến thứ hai.
Thế chiến thứ hai, nước Mỹ ban đầu vẫn không ra mặt, thông qua Đạo luật Cho thuê-Cho mượn (Lend-Lease) để giúp các nước Đồng minh, bao gồm cả Trung Quốc. Nhật Bản tập kích Trân Châu Cảng, nước Mỹ đành phải tuyên chiến, đó là bước ngoặt của Thế chiến thứ hai; nước Mỹ vì bảo vệ tự do của các quốc gia khác trên thế giới đã hy sinh bốn mươi vạn tướng sĩ. Sau chiến tranh, nước Mỹ bằng sức một mình thúc đẩy thành công “Tòa án Nuremberg” chính nghĩa, thúc đẩy thành công “Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới”, và thông qua “Kế hoạch Marshall” bỏ ra khoản tiền khổng lồ giúp châu Âu phục hưng, đến đây thế giới tự do phương Tây mới chính thức thành hình, và cuối cùng chiến thắng phe cộng sản Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh.
- Tuân theo lý tưởng quốc gia mà phó xuất cho văn minh nhân loại
Từ sự hồi cố cực kỳ giản lược lịch sử nước Mỹ trên đây, có thể rút ra hai điểm rất quan trọng.
Thứ nhất, nước Mỹ quả thực có lý tưởng quốc gia. Điều này không có nghĩa mọi việc nước Mỹ làm đều rất cao thượng, nhưng nước Mỹ rất nhiều khi hành sự theo lý tưởng quốc gia. Có những người, đặc biệt là bộ máy loa của Trung Cộng, nói rằng nước Mỹ đều vì lợi ích của mình mà thi hành chính sách. Nếu quả như vậy, nước Mỹ không thể trở thành người lãnh đạo thế giới tự do, không thể được đa số quốc gia trên toàn cầu kính trọng. Nếu nói nước Mỹ quả thực đã xây dựng thực lực hùng hậu và địa vị chiến lược trên thế giới, do đó thu được lợi ích về kinh tế, thì đó cũng là kết quả, cũng có thể nói là vinh diệu mà thần minh ban cho vì sự phó xuất của nó cho văn minh. Từ khi nước Mỹ bước lên vũ đài thế giới trong Thế chiến thứ nhất, những chính sách trọng đại nhất của nó như thúc đẩy Hội Quốc Liên, Đạo luật Cho thuê-Cho mượn, tham gia Thế chiến thứ hai, Kế hoạch Marshall, đều không phải mưu cầu lợi ích quốc gia, mà là tuân theo lý tưởng quốc gia mà phó xuất cho văn minh nhân loại.
Trong lịch sử nước Mỹ quả thực luôn có một luồng sức mạnh kéo nó lệch khỏi lý tưởng quốc gia, đó là sự vị kỷ và tham lam của nhân tính, sự truy cầu vô ước thúc, vô chỉ tận đối với lợi ích vật chất. Vì tác dụng của lòng tham này, nước Mỹ vẫn chưa từng thực hành hoàn mỹ được lý tưởng quốc gia của mình.
Khi khởi thảo Tuyên ngôn Độc lập, đại biểu các bang miền Nam đã ép Jefferson bỏ đi lời chỉ trích nước Anh buôn bán nô lệ. Nguyên nhân nội chiến Nam-Bắc, như Tổng thống Lincoln chỉ ra, chính là lợi ích khổng lồ mà chế độ nô lệ cấu thành. Các tổng thống thời kỳ đầu của Mỹ, Jefferson, Madison, Jackson, Lincoln v.v. đối với lòng tham này đều cực kỳ cảnh giác. Jefferson từng trực tiếp cảnh cáo hậu nhân nước Mỹ: “Đúng, chúng ta đã tạo dựng nên nền cộng hòa gần như hoàn mỹ. Nhưng, họ có giữ gìn được nó không? Hay sẽ trong sự hưởng thụ phong phú mà đánh mất ký ức về tự do? Nhân cách nghèo nàn mà vật chất phong phú là con đường tất yếu đi đến hủy diệt.”
Sự lệch khỏi lý tưởng quốc gia vì truy cầu vật dục này đã mang đến cho nước Mỹ nhiều lần tai họa, ví dụ vụ sụp đổ thị trường chứng khoán năm 1929 và cuộc Đại Suy Thoái sau đó; ví dụ sự ủng hộ của các tài phiệt tài chính Phố Wall và các công ty lớn dành cho Hitler sau Thế chiến thứ nhất, cũng khiến hình ảnh nước Mỹ hoen ố; ví dụ vai trò chẳng vẻ vang gì của IBM trong việc Hitler bức hại người Do Thái; ví dụ sự cướp đoạt của các công ty dầu mỏ ở Trung Nam Mỹ.
Chính sự truy cầu vô độ vật dục này, thông qua vận động hành lang lợi ích của giới thương mại khống chế giới chính trị Mỹ mà hoạch định ra chính sách giao dịch với Trung Cộng. Về điều này, bất kể chính khách, giới thương mại của họ biện giải thế nào rằng đó là để thúc đẩy thị trường hóa kinh tế Trung Quốc, từ đó thúc đẩy dân chủ chính trị, thì sự đi ngược lý tưởng quốc gia Mỹ của nó, qua việc so sánh với lịch sử nội chiến Nam-Bắc của Mỹ, có thể thấy hết sức rõ ràng. Nếu Tổng thống Lincoln không trung thành đến thế với cái gốc lập quốc của nước Mỹ, không yêu cầu bãi bỏ chế độ nô lệ, mà lại chơi trò “chính sách giao lưu” với miền Nam, còn tuyên bố kinh tế tốt hơn sẽ dẫn đến tự do lớn hơn cho nô lệ, đồng thời miền Bắc có thể tay không dính máu mà thu lợi kinh tế từ đó, thậm chí có thể dùng những lời lẽ đường hoàng như “luôn dốc sức thúc đẩy nhân quyền cho nô lệ miền Nam” để biện hộ, thì chẳng khác gì chính sách đối với Trung Quốc của nước Mỹ hôm nay. Nếu như thế, Lincoln tuyệt không thể trở thành một trong những tổng thống được kính trọng nhất lịch sử nước Mỹ.
Kế hoạch Marshall của Mỹ sau Thế chiến thứ hai càng là ví dụ thành công về thúc đẩy kinh tế bảo đảm tự do. Kế hoạch Marshall sở dĩ giành được thành công to lớn, là vì dụng ý của nó chân thành: thực sự giúp châu Âu khôi phục kinh tế, chứ không phải để mưu lợi từ châu Âu. Hơn nữa, Kế hoạch Marshall mở cửa cho cả Liên Xô, cho các nước cộng sản Đông Âu khác; nhưng chính vì dụng ý của nó chân thành, chẳng những Liên Xô không dám nhận, còn không cho các nước cộng sản khác nhận. Trong đó, Ba Lan và Bulgaria vì tỏ ý muốn gia nhập Kế hoạch Marshall, lãnh đạo đảng cộng sản hai nước bị Stalin mắng thậm tệ, nhưng Liên Xô cũng đành phải cho hai nước đãi ngộ hiệp ước kinh tế ưu đãi. Chính sách đối với Trung Quốc hiện hành của Mỹ có được thành ý giúp Trung Quốc phát triển kinh tế như Kế hoạch Marshall không?
Thứ hai, nhờ lý tưởng quốc gia của mình, nước Mỹ trong một thời kỳ lịch sử khá dài đi đầu văn minh nhân loại, trở thành người lãnh đạo thế giới tự do cho đến thế giới văn minh. Kéo theo đó, dù nước Mỹ không tình nguyện, những xung đột lớn trên thế giới cuối cùng đều sẽ phản ánh đến nước Mỹ, cuốn nước Mỹ vào. Người Mỹ quả thực sẽ cảm thấy gánh nặng này quá lớn. Nhưng, bản thân điều này vừa là ưu thế của nước Mỹ, vì chính nghĩa và sự hùng mạnh mà chính nghĩa mang lại, các loại xung đột và tai họa hiếm khi xảy ra trên đất Mỹ, người Mỹ được an cư lạc nghiệp đắc thiên độc hậu hơn các dân tộc khác trên thế giới; đồng thời đây cũng là trách nhiệm của nước Mỹ, vì bản thân sự tồn tại của nước Mỹ theo lý tưởng quốc gia của nó đã khiến các thế lực dã man cảm thấy bị đe dọa; trừ phi nước Mỹ hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức, xích lại gần dã man, bằng không nước Mỹ cuối cùng đều sẽ hoặc vì áp lực của chức trách bảo vệ văn minh, hoặc vì bị dã man tấn công mà đành phải cuốn vào. Nước Mỹ trong lịch sử luôn dao động giữa chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa hiện thực: từng có chính nghĩa chủ động kiên trì lý tưởng quốc gia, cũng từng có sự né tránh trách nhiệm theo chủ nghĩa hiện thực.
- Kiên trì chính nghĩa là cái giá nhỏ nhất
Chính nghĩa bản thân nó là một trách nhiệm đạo nghĩa, do đó phải trả giá; nhưng lịch sử, đặc biệt là lịch sử thảm thống của việc nhân loại thỏa hiệp với dã man, đã nhiều lần cho thấy: kiên trì chính nghĩa là cái giá nhỏ nhất. Như ví dụ Học thuyết Monroe của Mỹ nêu trên: nước Mỹ tuy chưa có thực lực, vẫn dũng cảm gánh vác trách nhiệm bảo vệ chính nghĩa, mà nước Mỹ thực tế chẳng cần phó xuất cụ thể bao nhiêu. Có điều, người ta lại chính là không dễ nhìn thấy cái giá nhỏ nhất của lập trường chính nghĩa trong việc ngăn chặn dã man, ngược lại từ sự phó xuất khổng lồ khi đành phải chiến đấu với dã man sau khi nó hung hăng, mà đo lường cái giá của việc kiên trì chính nghĩa. Kỳ thực, đó chính là cái giá của việc không kiên trì chính nghĩa, mà cái giá của việc không kiên trì chính nghĩa thì ngày càng lớn, vì càng không kiên trì chính nghĩa, dã man càng hung hăng. Cái giá cuối cùng của việc không kiên trì chính nghĩa là bị dã man nuốt chửng. Chủ nghĩa hiện thực không nhìn thấy cái giá nhỏ nhất của lập trường chính nghĩa trong việc ngăn chặn dã man, do đó đành phải trả cái giá lớn hơn của việc không kiên trì chính nghĩa.
Sau Thế chiến thứ hai, người ta luôn hỏi: có khả năng ngăn chặn Thế chiến thứ hai xảy ra không? Kỳ thực lịch sử từng có nhiều cơ hội ngăn chặn sự hung hăng của phe Trục, mà cơ hội hòa bình nhất là năm 1931 tại Hội Quốc Liên chế tài cuộc xâm lược Đông Bắc Trung Quốc của Nhật Bản, cùng việc tẩy chay Thế vận hội Berlin 1936. Về điều này, người ta vẫn khá hoài nghi: điều đó có thể ngăn Thế chiến thứ hai xảy ra không? Nhưng, nếu chế tài Nhật Bản, tẩy chay Thế vận hội Berlin đều không thể ngăn Thế chiến thứ hai, thì chẳng phải càng nên chế tài Nhật Bản, càng nên tẩy chay Thế vận hội Berlin sao? Mà bản thân việc chế tài Nhật Bản, tẩy chay Thế vận hội Berlin sẽ gửi cho Nhật Bản, Đức một tín hiệu mạnh mẽ: lực lượng chính nghĩa có quyết tâm kiên trì chính nghĩa. Còn nước Mỹ trong cả hai cơ hội này đều không kiên trì chính nghĩa, cuối cùng đã trả giá bằng sinh mệnh của bốn mươi vạn tướng sĩ trong Thế chiến thứ hai.
- Các thế lực dã man đều mong nước Mỹ đừng can dự
Trong lịch sử, các thế lực dã man quả thực đều mong nước Mỹ đừng can thiệp can dự như Đức, Nhật trong hai cuộc thế chiến, trọng điểm chính sách ngoại giao của họ đều là ngăn ngừa sự can dự của Mỹ. Hơn nữa, bất kỳ sự nhượng bộ nào của nước Mỹ khi đối đầu với thế lực dã man đều tạo thành trải nghiệm thảm thống của nhân dân các nước yếu bị dã man ức hiếp, tàn sát, đồng thời cổ vũ thế lực dã man, mà cuối cùng vẫn phản ánh đến nước Mỹ. Ví dụ năm 2005, Tổng thống Bush tại Latvia công khai xin lỗi về “Hiệp định Yalta”, gọi đó là một hiệp định “phi nghĩa nghiêm trọng nhất trong lịch sử”. Mà hậu quả tệ hại của Hiệp định Yalta, bao gồm sự bành trướng thế lực Stalin, bao gồm Chiến tranh Triều Tiên, bao gồm việc Trung Cộng chiếm lĩnh Trung Quốc đại lục, nước Mỹ đến hôm nay vẫn đành phải đối mặt.
Sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng cấu thành thách thức mới đối với việc nước Mỹ kiên trì tinh thần quốc gia
- Chính sách ngoại giao của Trung Cộng lo sợ nhất chính là áp lực của Mỹ
Như đã trình bày ở Chương 12, chính sách ngoại giao của Trung Cộng hoàn toàn lấy Mỹ làm trung tâm, lo sợ nhất chính là áp lực của Mỹ, trọng điểm là tránh việc Mỹ phê bình vấn đề nhân quyền của Trung Cộng. Mà sự cám dỗ lợi ích của Trung Cộng đối với Mỹ cấu thành thách thức mới đối với việc Mỹ kiên trì tinh thần quốc gia của mình, vì thứ nước Mỹ đối mặt không chỉ là cái giá của việc kiên trì chính nghĩa, còn có phần thưởng của việc không kiên trì chính nghĩa, tức là sự thỏa mãn vật dục. Thách thức kép này, dưới tác dụng kép của lòng tham nhân loại và chủ nghĩa hiện thực, khiến nước Mỹ nghiêm trọng nhất từ trước tới nay đi ngược lý tưởng quốc gia của mình, và vì đó trả giá gấp đôi.
Cái giá của việc nước Mỹ giao dịch với Trung Cộng, không kiên trì chính nghĩa, là lớn nhất từ khi nước Mỹ tồn tại, đến nay không thể ước lượng. Hiện nay người ta phổ biến cho rằng sự tăng trưởng thực lực của Trung Quốc là không thể tránh khỏi; nhưng sau Thế chiến thứ hai, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Đức, Nhật còn kinh người hơn, trong nước họ không lấy nhân quyền, môi trường làm cái giá nhường lợi khổng lồ, trên quốc tế cũng không hình thành mối đe dọa. Kỳ thực lúc ấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn Tây Âu đều rất cao. Sự tăng trưởng thực lực của các quốc gia dân chủ này là sự tăng trưởng của lực lượng văn minh, cũng là sự tăng trưởng của lực lượng chính nghĩa do Mỹ lãnh đạo, đồng thời nước Mỹ cũng trực tiếp nhận được hồi báo về kinh tế.
Trung Cộng gọi sự tăng trưởng thực lực của nó là “trỗi dậy hòa bình”, đủ thấy chính Trung Cộng cũng biết thế giới lo ngại về nó. Bất kể Trung Cộng tự che đậy thế nào, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc bên trong lấy sự phá hoại chưa từng có về nhân quyền, môi trường, văn hóa, đạo đức làm cái giá, bên ngoài hình thành mối đe dọa với toàn cầu, và đã mang đến tổn hại về nhân quyền, môi trường cho nhiều quốc gia, nó là sự tăng trưởng của lực lượng dã man.
- Sự phát triển kinh tế Trung Quốc vốn không tất yếu trở thành sự tăng trưởng của lực lượng dã man
Sự phát triển kinh tế Trung Quốc vốn không tất yếu trở thành sự tăng trưởng của lực lượng dã man, đúng như sự phát triển kinh tế thời kỳ cải cách thập niên 80 thế kỷ 20 của Trung Quốc đối nội đối ngoại đều không có xung kích xấu. Còn việc Trung Cộng về sau ngày càng chuyển hướng thành sự bành trướng của lực lượng dã man cố nhiên do ác chính của thể chế mang tính tham nhũng của Giang Trạch Dân, nhưng việc thế giới tự do do Mỹ đứng đầu không kiên trì chính nghĩa để quy phạm nó, ngược lại toan thủ lợi từ đó, đây cũng là nguyên nhân quan trọng. Giới thương mại Mỹ bắt cóc giới chính trị mà thu được lợi nhuận siêu ngạch từ chế độ nô lệ của Trung Quốc, nhưng đồng thời đã tiếp tay cho sự bành trướng cấp tốc của lực lượng dã man Trung Cộng.
Mối đe dọa từ sự tăng trưởng của lực lượng dã man, nước Mỹ trong lịch sử không phải chưa từng đối mặt. Tuy sau khi Hitler đã cấu thành mối đe dọa rõ ràng với văn minh, vẫn có không ít thương nhân Mỹ vì lợi ích không muốn đối mặt hiện thực, vẫn từng tài trợ cho sự trỗi dậy của Hitler. Có điều, việc những người quyết sách của Mỹ vì thương mại và một số lợi ích hẹp hòi khác mà nhắm mắt làm ngơ trước vô số tội ác thảm vô nhân đạo của Trung Cộng, thậm chí trong quyết sách còn tài trợ cho sự tăng trưởng của lực lượng dã man, điều này trong lịch sử nước Mỹ chưa từng có.
Tư dục của giới thương mại cố nhiên nhận được sự thỏa mãn siêu ngạch từ chế độ nô lệ của Trung Cộng, nhưng cái nước Mỹ cho đến thế giới tự do phải trả là cái giá “lực lượng chính nghĩa suy giảm còn lực lượng dã man Trung Cộng lớn mạnh”, điều này trong lịch sử nước Mỹ càng chưa từng có.
Chỉ lấy Đông Nam Á làm ví dụ: do sự mua chuộc của Trung Cộng, nước Mỹ từng có lúc bị buộc phải rút lui; còn những năm nay, đặc biệt sau khi tranh chấp Biển Đông dần nổi lên, nước Mỹ gấp rút cần quay lại châu Á. Sự gấp rút quay lại này chính là phản ánh trạng thái lúng túng thiếu hụt về chính sách ngoại giao và sách lược khu vực của chính phủ Mỹ những năm này, điều nước Mỹ chưa từng có từ khi bước lên vũ đài thế giới.
- Cái giá mà tư niệm và lòng tham gây ra cho nước Mỹ đã hiển hiện
Cái giá mà tư niệm và lòng tham của giới thương mại cho đến giới chính trị Mỹ gây ra cho nước Mỹ, ngay trong nước Mỹ cũng đã thể hiện ra. Đúng như lịch sử nước Mỹ nhiều lần chứng kiến: một khi nước Mỹ lệch khỏi lý tưởng quốc gia, xã hội Mỹ sớm muộn sẽ bị nó quấy nhiễu. Giới thương mại Mỹ thu được lợi nhuận khổng lồ từ chế độ nô lệ của Trung Cộng, tầng lớp lao động lại gánh cái giá mất đi hàng triệu việc làm ngành chế tạo. Trong khủng hoảng tài chính năm 2008, việc làm ngành chế tạo Mỹ chảy mất thậm chí lên đến hàng chục triệu. Bất kỳ quốc gia nào cũng không thể chịu nổi áp lực thất nghiệp khổng lồ như thế; những vấn đề xã hội kéo theo đã tổn thương xã hội Mỹ, tổn thương quốc bản của nước Mỹ. Tầng lớp giàu nghèo chỉ trích lẫn nhau: tầng lớp giàu chỉ trích người nghèo lười biếng, tầng lớp nghèo thì chỉ trích người giàu tham lam bất nhân; sự đối lập giàu nghèo của nước Mỹ gay gắt chưa từng có, từ đó dẫn đến đấu tranh đảng phái giữa hai đảng của Mỹ kịch liệt chưa từng có.
Do ảnh hưởng khổng lồ của giới thương mại, giới chính trị Mỹ đến nay vẫn không dám trực tiếp đối mặt vấn đề Trung Cộng bức hại nhân quyền, mà chỉ vòng vo gây áp lực kinh tế với Trung Cộng trên vấn đề tỷ giá nhân dân tệ. Nguyên nhân căn bản khiến hàng hóa Trung Quốc giá rẻ là “ưu thế nhân quyền thấp” của chế độ nô lệ Trung Cộng, điều này ngay cả học giả Trung Quốc đại lục cũng đang công khai thảo luận. Chỉ cần nước Mỹ ủng hộ quyền tổ chức công đoàn của lao động Trung Quốc như từng ủng hộ Công đoàn Đoàn kết Ba Lan, “ưu thế nhân quyền thấp” của hàng hóa Trung Quốc sẽ tự động biến mất. Nhưng, cơ hội để giới thương mại Mỹ thu lợi từ chế độ nô lệ Trung Cộng cũng sẽ biến mất theo. Giới chính trị Mỹ không dám đối mặt vấn đề bản chất là Trung Cộng bức hại nhân quyền, lại toan dùng thủ đoạn kinh tế tỷ giá tiền tệ giải quyết vấn đề chính trị, đây chính là nguyên nhân căn bản. Đây vẫn là vì lòng tham mà không kiên trì chính nghĩa, và nước Mỹ vẫn sẽ tiếp tục trả cái giá nặng nề vì nó.
Nước Mỹ trên các lý tưởng nhân quyền tự do không cứng rắn nổi với Trung Cộng, một nguyên nhân là bị kinh tế của Trung Cộng dọa sợ. Sự chấn hưng kinh tế Mỹ sẽ khiến nước Mỹ tự tin hơn, từ đó có thể cứng rắn với Trung Cộng. Nhưng, điều này lại như một “nghịch lý”: khuất phục Trung Cộng, bản thân nó sẽ khiến kinh tế Mỹ không chấn hưng nổi.
- Lý tưởng quốc gia Mỹ đã hoàn toàn bị “lợi ích quốc gia” thay thế
Nghiêm trọng hơn nữa là, do ảnh hưởng kép của lòng tham và chủ nghĩa hiện thực, nước Mỹ đã ngày càng xa rời lý tưởng quốc gia của mình. Năm 2000, “Ủy ban Lợi ích Quốc gia” của Mỹ, cảm nhận được nước Mỹ đang đối mặt nguy cơ mất phương hướng, đã hợp tác với Đại học Harvard, viện nghiên cứu RAND, Trung tâm Nixon, v.v., tập trung các nhân vật trọng yếu về an ninh quốc gia Mỹ để đưa ra một bản báo cáo về lợi ích quốc gia Mỹ. Từ bản báo cáo quan trọng này có thể thấy: lý tưởng quốc gia Mỹ đã hoàn toàn bị lợi ích quốc gia thay thế.
Còn sau khủng hoảng tài chính năm 2008, tư duy của chính phủ lẫn dân gian Mỹ càng hoàn toàn tập trung vào phương diện kinh tế. Nước Mỹ ngày nay, ứng viên tranh cử nào không đặt vấn đề kinh tế lên hàng đầu? Nước Mỹ từng lâu dài đi đầu văn minh nhân loại, nhưng hôm nay, kinh tế, thậm chí làm sao kiếm nhiều tiền hơn, lại trở thành nghị đề quan trọng số một của nước Mỹ.
Kinh tế, cũng như săn bắn hay nông nghiệp từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại, xưa nay không phải là giá trị căn bản của văn minh, kiếm nhiều tiền càng không phải, bằng không sự truy cầu vật dục đã thành định hướng giá trị cao thượng và duy nhất rồi. Văn minh cận đại của nhân loại vào thời khắc giao thế kỷ giành được thắng lợi huy hoàng bằng phương thức xác lập giá trị phổ quát nhân quyền tự do, thế mà trong chớp mắt lại bị Trung Cộng thời Giang câu dẫn lòng tham nhân loại mà phá hủy đến mức kinh tế đè bẹp mọi giá trị văn minh. Nhân loại ngoài kinh tế, tiền bạc, còn nhìn thấy giá trị nào không? Văn minh nhân loại sẽ phải dựa vào giá trị của tờ tiền để duy trì hay sao?
Lợi ích quốc gia và lý tưởng quốc gia không hoàn toàn bài xích nhau. Chỉ cần tồn tại dưới hình thức quốc gia, thì sẽ có sự tồn tại của lợi ích quốc gia. Chỉ là người Mỹ đã hòa lý tưởng vào trong định nghĩa “lợi ích quốc gia” của mình. Thiên hạ đều tự do, thì nước Mỹ tự do; thiên hạ đều an toàn, thì nước Mỹ an toàn. Cho nên việc truyền bá giá trị tự do trên toàn cầu, kỳ thực chính là lợi ích quốc gia cốt lõi của nước Mỹ.
Tiết 8: Cự tuyệt văn minh
Văn minh cận đại của nhân loại vào thời khắc giao thế kỷ giành được thắng lợi huy hoàng bằng phương thức xác lập giá trị phổ quát nhân quyền tự do, thế mà trong chớp mắt lại bị Trung Cộng câu dẫn lòng tham nhân loại mà phá hủy đến mức lợi ích kinh tế đè bẹp mọi giá trị văn minh. Đủ loại vấn đề và tổn thất mà điều này mang đến cho thế giới hôm nay cố nhiên khiến người ta kinh tâm động phách, nhưng đây còn chưa phải là điều đáng sợ nhất.
Nhìn suốt năm nghìn năm văn minh nhân loại, chinh phạt sát phạt, tranh quyền mưu lợi xuyên suốt trong đó. Người ta cho rằng đây là bản năng cầu sinh và đối kháng khổ nạn của con người, do đó cho là thiên kinh địa nghĩa. Thế nhưng, trong lịch sử lại luôn có những bậc tiên tri triết nhân xuất hiện, nói với con người rằng: con người không phải sống vì những thứ ấy. Những gì họ dạy bảo, về sau đều trở thành nền tảng của văn minh nhân loại. Điển hình như Thích Ca Mâu Ni, Lão Tử, Khổng Tử, Socrates và Chúa Giê-su của “Thời đại Trục”, giáo huấn của họ cấu thành hệ giá trị của các nền văn minh Ấn Độ, Trung Quốc, phương Tây.
Thế nhưng, những bậc tiên tri triết nhân này khi còn tại thế lại thường không được xã hội đương thời dung nạp; Chúa Giê-su, Socrates thậm chí bị sát hại. Mà những kẻ không dung nạp họ, cự tuyệt họ, bức hại họ, không phải là người dã man ăn lông uống máu, mà là người văn minh đang hưởng thụ, chìm đắm trong vật dục của xã hội văn minh. Lịch sử chứng minh việc làm của những bậc tiên tri triết nhân này hoàn toàn xuất phát từ tình yêu thương chân thành đối với người đời; giáo huấn của họ không gây đe dọa, tổn hại cho bất kỳ ai, nhưng sự vị kỷ và lòng tham của nhân loại lại không muốn tự ước thúc đến thế, đến mức cự tuyệt văn minh, thậm chí dùng phương thức dã man sát hại những bậc tiên tri triết nhân này. Lịch sử cũng chứng minh kết cục tự hủy của việc cự tuyệt văn minh: Hy Lạp cổ đại sát hại Socrates đã từ biệt thời đại hoàng kim của mình, cuối cùng vong quốc dưới tay người La Mã; còn La Mã sát hại vô số tín đồ Cơ Đốc thì vong quốc bởi thiên tai và sự xâm nhập của man tộc.
Lịch sử thường tái diễn, mà nhân loại đến khi nào mới ghi nhớ được bài học?
Hai mươi năm thế giới tự do phương Tây bận rộn kết giao bằng lợi ích với Trung Cộng, cũng chính là hai mươi năm một trăm triệu học viên Pháp Luân Công tu luyện theo nguyên lý Chân-Thiện-Nhẫn, và bằng phương thức hòa bình chống đỡ cuộc bức hại dã man nhất của Trung Cộng dã man. Học viên Pháp Luân Công tuân theo giáo huấn gì? Vì sao họ chịu sự bức hại dã man? Họ đang và sẽ mang đến điều gì cho Trung Quốc và thế giới? Tất cả những điều này, từ khi Trung Cộng tiến hành đàn áp dã man Pháp Luân Công hơn chục năm nay, vô số học viên Pháp Luân Công đã viết vô số bức thư cho các chính khách và tinh hoa của thế giới tự do, thế nhưng, chính phủ các nước thế giới tự do đến nay vẫn chưa nghiêm túc đi tìm hiểu chân tướng về Pháp Luân Công.
Lịch sử vẫn đang tái diễn, nhân loại đến khi nào mới nhớ lại được bài học?!
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/9/9/n3678537.htm
Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.
Từ khi cuốn sách