Chương 12: Vinh quang • Lý tưởng • Lầm lỡ của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (phần giữa)
Phần thứ tư: Các quốc phụ vĩ đại của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
Nước Mỹ vận may đến thế, lại sinh ra cả một nhóm quốc phụ
Có người Trung Quốc đến Mỹ, cảm khái vô hạn nói: nhóm quốc phụ này của nước Mỹ, những con người như thế, sinh ra được một người đã chẳng dễ; nơi này sao vận may đến thế, lại sinh ra cả một nhóm.
Những người năm xưa tham dự quyết định nền độc lập của nước Mỹ, ai nấy đều không phải hạng tầm thường. Bất kể là Washington, Jefferson, hay Franklin và Lincoln, tất cả những quốc phụ “nửa người nửa thần” này của Hợp chúng quốc đều có một điểm chung: họ đều là những vĩ nhân được dân chúng ngưỡng vọng trong lòng, là những vĩ nhân từ đầu đến cuối bảo vệ đạo đức.
Mỹ đức của George Washington thể hiện ở chỗ làm sao thông qua thân xác bên ngoài của con người mà thể hiện sức mạnh đạo đức bên trong. Đó là tinh thần hiến thân cống hiến cho phúc chỉ nhân loại mà mỗi chúng ta đều có thể tìm thấy trên chính mình; là quan niệm đạo đức tự hoàn thiện, vừa kỳ vọng vừa thân hành thực hiện.
Thomas Jefferson từ xa xưa năm 1786 đã thúc đẩy bang Virginia thông qua “Đạo luật Tự do Tôn giáo” do ông khởi thảo, chỉ ra: “Tư tưởng kiến giải của con người không phải đối tượng quản lý của chính phủ, cũng không thuộc phạm vi quản hạt của nó.” “Đạo luật Tự do Tôn giáo” về sau phát triển thành một bộ phận của Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights) trong Hiến pháp Mỹ.
Nguyên nhân nước Mỹ có thể sinh ra cả một nhóm quốc phụ
Năm 1776, một nhóm nhân sĩ kiệt xuất theo đuổi tự do tín ngưỡng, vượt núi cao đất xa đến Bắc Mỹ hoang vu, rời xa thế giới châu Âu cổ xưa, trong môi trường khoan dung nhất mà thấm sâu sự khải ngộ của Thượng Đế, sáng tạo nên sự theo đuổi tinh thần mới, và từ đó kiến lập quốc độ mới cùng văn minh nhân loại đương đại.
Washington nói: “Các bạn là người Mỹ, các bạn yêu tự do tha thiết. Mỗi tế bào trên thân các bạn đều tràn đầy tự do. Tôi không cần đưa thêm kiến nghị gì để củng cố và kiên định niềm tin này của các bạn.”
Nhìn suốt lịch sử nước Mỹ, hiếm có mấy người nắm trọng quyền như Washington mà dùng quyền lực trong tay thỏa đáng, đúng mực, khiêm cung đến thế. Bởi bản tính thiện lương nhất của những vĩ nhân này nói cho họ biết: quyền lực trong tay đến từ Thần, là để phục vụ đại chúng cho đến toàn nhân loại.
Mỹ đức tự tu hành thể hiện trên thân các tiên hiền quốc phụ ánh chiếu truyền thống viễn cổ; bất kể tiếng nói ấy ngày nay bị hậu nhân lãng quên mà yếu ớt thế nào, chúng ta vẫn có thể từ sâu thẳm nội tâm nghe ra đó là tinh thần phổ biến nguyên sơ của nhân loại, là tiếng gọi trở về truyền thống vĩnh hằng, do Trời cao chỉ dẫn, của cuộc tìm tòi cảnh giới đạo đức cao thượng.
Washington, Jefferson, Franklin, Lincoln đều có lý niệm riêng của mình. Ở đây, khái niệm quốc gia không chỉ là một thực thể chính trị xã hội, mà còn là nơi hội tụ của linh hồn nhân loại. Vị Thượng Đế này không phải Thượng Đế của bất kỳ nhà thờ hay giáo phái tôn giáo nào, mà là Thượng Đế theo hàm nghĩa sâu sắc nhất, Đấng Tạo Hóa chân thực nhất, nhân ái nhất và mạnh mẽ nhất trong vũ trụ cùng trong đời người.
Rõ ràng, các tiên hiền khai quốc của Mỹ không phải vì tư tâm và mục đích lấy mình làm trung tâm mà đổ máu hy sinh; họ cũng không đem cái xung động vật chất ấu trĩ không chút kiềm chế, bất kể thời gian, bất kể thủ đoạn, muốn gì đòi nấy, của chúng ta biến thành mục tiêu phấn đấu thần thánh của họ. Chúng ta không thể hiểu Hợp chúng quốc thành một thực thể xã hội, chính trị, kinh tế thuần túy bên ngoài, một Hợp chúng quốc như thế không thể bền lâu. Hợp chúng quốc chân chính không dựa trên yêu ghét cá nhân, cũng không phải thỏa mãn dục vọng cá nhân, mà xuất phát từ tinh thần lương tri nhân loại.
Sử gia Mỹ Page Smith từng hỏi: “Giả như thật có một thứ gọi là ý thức Hợp chúng quốc độc đáo, thì nơi phát nguyên của nó ở đâu?” Ông viết: sức mạnh căn bản nhất tạo hình tính cách người Mỹ là “sự lĩnh ngộ tối hậu về hàm nghĩa của vũ trụ cùng quan hệ giữa chúng ta và vũ trụ, nói gọn một câu, chính là sự lĩnh ngộ về hàm nghĩa của vũ trụ.”
Tổng thống George Washington
Tổng thống đầu tiên của Mỹ George Washington, trong bài diễn văn nhậm chức tổng thống ngày 30 tháng 4 năm 1789, đã trình bày lý niệm lập quốc của ông.
Nương nhờ sức mạnh của Thần
“Đã rằng đó là cảm nghĩ của tôi khi tuân theo tiếng gọi của công chúng mà nhậm chức vụ hiện tại, thì nhân dịp tuyên thệ nhậm chức này, nếu không nhiệt thành cầu xin Thượng Đế toàn năng sẽ là một việc rất không thỏa đáng. Bởi Thượng Đế thống trị vũ trụ, làm chủ chính phủ các nước; sự thần trợ của Ngài có thể bù đắp mọi khiếm khuyết của con người. Nguyện Thượng Đế ban phúc, phù hộ một chính phủ được tổ chức nên vì tự do và hạnh phúc của nhân dân Mỹ, phù hộ nó cống hiến cho những mục đích cơ bản này, phù hộ các biện pháp hành chính của nền chính trị, dưới sự phụ trách của tôi, đều phát huy tác dụng thành công. Tôi tin rằng, khi dâng lên Đấng Sáng Tạo vĩ đại của lợi ích công cộng và lợi ích tư nhân lòng sùng kính này, những lời này cũng đồng thời nói lên tiếng lòng của quý vị và đông đảo công dân. Không ai có thể kiên định không lay chuyển hơn người Mỹ trong việc thừa nhận và sùng bái Thượng Đế nắm giữ công việc của nhân loại. Trên tiến trình đi tới quốc gia độc lập, dường như mỗi bước đi của họ đều có dấu hiệu thiên hựu nào đó; trong cuộc cải cách trọng đại thể chế chính phủ liên bang vừa hoàn thành, nếu không phải nhờ lòng biết ơn trung thành mà nhận được sự hồi báo nào đó, nếu không phải khiêm nhường trông đợi phúc lành mà quá khứ đã dự báo, thì việc hoàn thành cải cách thông qua sự suy nghĩ bình tĩnh và tán đồng tự nguyện của bao nhiêu tập đoàn khác biệt nhau, phương thức này khó lòng so được với phương thức mà đa số chính phủ áp dụng trong quá trình tổ chức. Vào bước ngoặt hiện nay, tôi nảy sinh những ý nghĩ này quả thực là cảm xúc sâu xa không tự kìm nổi. Tôi tin mọi người sẽ cùng mang cảm nghĩ như tôi: nếu không nương nhờ sức mạnh của Thượng Đế, một chính phủ tự do mới ra đời không thể ngay từ đầu mọi việc như ý.”
Tài năng, chính trực và lòng ái quốc của người được bầu
“Bản Hiến pháp vĩ đại, nó khiến quý vị hôm nay vui vầy tụ hội, nó quy định quyền hạn của quý vị, chỉ ra mục tiêu quý vị cần chú ý. Trong trường hợp như thế, cách làm thỏa đáng hơn, cũng phản ánh nhiệt tình trong lòng tôi hơn, không phải là đề xuất biện pháp cụ thể, mà là ca ngợi tài năng, chính trực và lòng ái quốc của những người được bầu, những người sẽ quy hoạch và áp dụng các biện pháp ấy. Từ những phẩm cách cao quý này, tôi thấy được sự bảo đảm đáng tin cậy nhất: thứ nhất, bất kỳ thiên kiến địa phương hay tình cảm địa phương nào, bất kỳ phân kỳ ý kiến hay thù địch đảng phái nào, đều không thể khiến chúng ta lệch khỏi quan niệm toàn cục và quan điểm công bằng, tức phải bảo vệ chính quyền đại liên hợp được tổ chức nên từ các vùng khác nhau và lợi ích khác nhau này.”
Chính sách của Mỹ lấy nguyên tắc đạo đức cá nhân làm nền tảng, lấy mọi đặc điểm giành được lòng dân và sự tôn kính của toàn thế giới mà hiển thị tính ưu việt
“Thứ hai, chính sách nước ta sẽ lấy nguyên tắc đạo đức cá nhân thuần chính không dời làm nền tảng; còn chính phủ tự do sẽ lấy mọi đặc điểm giành được lòng dân và sự tôn kính của toàn thế giới mà hiển thị tính ưu việt của nó. Lòng nhiệt ái đất nước thôi thúc tôi tràn đầy hân hoan trông về viễn cảnh này; bởi theo pháp tắc và xu thế phát triển của giới tự nhiên, giữa mỹ đức và hạnh phúc, giữa trách nhiệm và lợi ích, giữa việc tuân giữ chính sách thành thực khoan hậu với việc thu hoạch trái ngọt phồn vinh hạnh phúc của xã hội, có quan hệ mật thiết không thể chia cắt; bởi chúng ta cũng nên tin rằng: Thượng Đế đích thân quy định trật tự vĩnh hằng và pháp tắc quyền lợi, Ngài quyết không thể mỉm cười từ ái với quốc gia coi thường những pháp tắc ấy; bởi con người một cách đương nhiên, đầy tình cảm sâu nặng, và có lẽ là lần cuối cùng đem việc bảo vệ ngọn lửa tự do thần thánh cùng vận mệnh của chính thể cộng hòa gắn vào cuộc thực tiễn mà người Mỹ vâng mệnh tiến hành.
…
“Tôi còn muốn một lần nữa với lòng khiêm nhường cầu xin Thượng Đế nhân từ ban trợ giúp. Bởi nhờ ân tứ của Thượng Đế, nhân dân Mỹ có được cơ hội suy nghĩ chín chắn, có quyền dùng sự nhất trí ý kiến chưa từng có để quyết định thể chế chính phủ nhằm bảo đảm an toàn và hạnh phúc của Liên bang; đã như thế, Thượng Đế cũng sẽ hiển nhiên phù hộ chúng ta từng bước mở rộng tầm nhìn, tiến hành hiệp thương ổn định, áp dụng biện pháp sáng suốt, những điều này đều là chỗ dựa không thể thiếu để chính phủ khóa này giành thành công.”
Óc bè phái cắm rễ trong những dục vọng mãnh liệt nhất của tư tưởng nhân loại
Washington trong diễn văn từ biệt nói đến nhiều lý niệm hơn: “Hãy để tôi từ góc độ toàn diện hơn, với thái độ trịnh trọng nhất, khuyên răn các bạn cảnh giác toàn diện với ảnh hưởng xấu xa của óc bè phái. Bất hạnh thay, thứ óc bè phái này không thể tách rời bản tính chúng ta, cắm rễ trong những dục vọng mãnh liệt nhất của tư tưởng nhân loại. Nó tồn tại dưới đủ hình thức khác nhau trong mọi cơ cấu chính phủ, dù ít nhiều bị kìm nén, khống chế hay ràng buộc; nhưng những hình thức bè phái thường thấy thường là đáng ghét nhất, và quả thực là kẻ thù nguy hiểm nhất của chính phủ… Nó còn mở cửa tiện lợi cho ảnh hưởng và sự ăn mòn của nước ngoài, khiến chúng dễ dàng qua kênh bè phái mà thâm nhập vào chính phủ. Như thế, chính sách và ý chí của một quốc gia liền phải chịu sự chi phối của chính sách và ý chí của quốc gia khác.”
Tôn giáo và đạo đức là trụ cột không thể thiếu
“Trong các ý hướng và tập quán dẫn tới sự xương thịnh chính trị, tôn giáo và đạo đức là trụ cột không thể thiếu. Nhà chính trị thuần túy nên cũng như người kiền thành, tôn trọng và trân quý tôn giáo và đạo đức.
“Chúng ta còn nên khuyên răn mình đừng đắm trong ảo tưởng, cho rằng đạo đức có thể không nhờ tôn giáo mà duy trì. Dù nền giáo dục cao thượng có thể ảnh hưởng đến những tâm hồn có kết cấu đặc thù, nhưng theo lý trí và kinh nghiệm, không cho phép chúng ta kỳ vọng rằng trong tình trạng loại trừ nguyên tắc tôn giáo, đạo đức quốc dân vẫn có thể tồn tại phổ biến. Nói đạo đức là động lực nguyên thủy tất yếu của một chính phủ được lòng dân, câu này về thực chất chẳng sai chút nào. Chuẩn tắc này có thể áp dụng ít nhiều cho mỗi loại chính phủ tự do.”
Đề phòng âm mưu quỷ kế của thế lực nước ngoài
“Một dân tộc tự do nên thường xuyên cảnh giác, đề phòng âm mưu quỷ kế của thế lực nước ngoài (hỡi đồng bào, tôi khẩn cầu các bạn tin tôi), bởi lịch sử và kinh nghiệm chứng minh: thế lực nước ngoài là một trong những kẻ thù chí mạng nhất của chính phủ cộng hòa. Nhưng sự đề phòng này, muốn hữu hiệu, phải không thiên không lệch; nếu không, nó sẽ thành công cụ của thế lực chúng ta muốn thoát khỏi, chứ không phải công sự chống lại thế lực ấy. Quá thiên ái một nước và quá thiên ghét nước khác đều khiến quốc gia chịu ảnh hưởng ấy chỉ thấy nguy hiểm một phía, mà che đậy thậm chí dung túng quỷ kế phía kia thi hành. Khi tay chân của quốc gia chúng ta thiên ái cùng những người bị chúng che mắt, lợi dụng sự tán thưởng và tin cậy của nhân dân mà đem lợi ích nhân dân dâng nộp, thì những chí sĩ ái quốc chống lại quỷ kế của nước ấy ngược lại cực dễ thành đối tượng bị hoài nghi và căm ghét.
“Nguyên tắc quan trọng nhất khi chúng ta xử lý công việc nước ngoài là: trong khi phát triển quan hệ thương mại với họ, cố hết sức tránh phát sinh liên hệ chính trị với họ. Những điều ước chúng ta đã ký phải trung thực thực hiện, nhưng lấy đó làm giới hạn, không tăng thêm nữa.”
Linh hồn như thế là bị nô dịch
Giả như nói con người cũng như quốc gia… trong nội tâm anh ta ắt có kết cấu giống như thế: linh hồn anh ta ắt tràn đầy dục vọng nô dịch người khác và keo kiệt; những phần thiện lương, tốt đẹp nhất trong linh hồn anh ta đã bị giam cầm, còn những phần điên cuồng và đê tiện nhất thành kẻ làm chủ.
“Chắc chắn là như thế,” ông nói. “Vậy, anh nói linh hồn như thế là tự do hay bị nô dịch?” “Bị nô dịch, tuyệt đối như thế.” Washington nói: “Dẫn thế lực nước ngoài vào, trợ trưởng tham ô hủ hóa, những thứ hủ hóa thân ngoại này sẽ nương theo cơn cuồng nhiệt của chính trị đảng phái mà chui vào chính phủ. Như thế, chính sách và ý hướng của quốc gia chúng ta sẽ khuất phục trước chính sách và ý hướng của nước khác.”
Một quốc gia đòi ưu đãi từ quốc gia khác là chuyện dại dột
“Từ góc độ chính sách, nhân đạo và lợi ích quốc gia, chúng ta đều nên chung sống hòa bình, tự do qua lại với mọi quốc gia. Đến cả chính sách thương mại của chúng ta cũng phải nhất thị đồng nhân: đừng đi đòi ưu đãi của người khác, cũng đừng cho ai đãi ngộ đặc biệt nào; mọi việc thuận theo tự nhiên; thương mại phải dung hợp êm ả, đa dạng hóa, nhưng đừng gượng ép… Hãy mãi nhớ: một quốc gia đòi ưu đãi từ quốc gia khác là chuyện dại dột; bất kể nó nhận được gì, nó đều phải lấy một phần độc lập của chính mình làm giá… Đi trông đợi hay toan tính sự ưu đãi chân thực giữa nước với nước là một sai lầm lớn. Đó là một ảo giác phải nhờ kinh nghiệm mà chữa khỏi, bị lòng tự tôn chính đáng vứt bỏ.”
Tổng thống Thomas Jefferson
Thomas Jefferson, ngày 4 tháng 3 năm 1801, trong diễn văn nhậm chức Tổng thống Mỹ “Đồng tâm đồng đức đoàn kết lại”, đã bày tỏ lý niệm lập quốc của ông.
Chúng ta phẩm cách cao thượng, không thể dung nhẫn sự sa đọa của người khác
“Chúng ta phẩm cách cao thượng, không thể dung nhẫn sự sa đọa của người khác; đất nước trời ban của chúng ta, bờ cõi đủ dung nạp con cháu vạn đời; chúng ta nhận thức đầy đủ rằng trong việc phát huy tài năng cá nhân, lấy cần lao đổi lấy thu nhập, được đồng bào tôn kính và tin cậy, mọi người hưởng quyền bình đẳng, nhưng sự tôn kính và tin cậy ấy không xuất từ môn đệ dòng dõi, mà xuất từ hành vi của chúng ta và sự phán xét của đồng bào.”
Chúng ta được tôn giáo nhân từ khải địch
“Chúng ta được tôn giáo nhân từ khai sáng: dù giáo phái khác nhau, hình thức mỗi khác, nhưng chúng đều dạy người chính trực, trung thành, tiết chế, ân nghĩa và nhân ái; chúng ta thừa nhận và sùng bái Thượng Đế toàn năng, và thiên ý cho thấy Ngài vui lòng khiến con người nơi đây được hạnh phúc, mai sau còn được nhiều hạnh phúc hơn, chúng ta có những phúc lành này rồi, còn cần gì nữa mới có thể khiến chúng ta thành dân tộc vui vẻ mà hưng thịnh? Hỡi các công dân, chúng ta còn cần một điều: đó là chính phủ hiền minh mà tiết kiệm, nó sẽ ngăn người ta làm hại lẫn nhau, để họ tự do quản lý thực nghiệp và hoạt động tiến bộ của mình, nó sẽ không xâm đoạt trái quả lao động của con người. Đây chính là tinh túy của chính phủ tốt, đây cũng là điều tất yếu để chúng ta đạt tới hạnh phúc viên mãn.”
Nguyên tắc cơ bản của chính phủ là gì
“Hỡi các công dân, tôi sắp thực hiện chức trách; những chức trách này bao gồm tất cả những gì các bạn trân quý; vì vậy, các bạn nên hiểu điều tôi coi là nguyên tắc cơ bản của chính phủ là gì, nguyên tắc làm căn cứ hành chính của nó lại là gì. Tôi sẽ cố trình bày vắn tắt, chỉ nói nguyên tắc chung, không nói các hạn định của nó: thực hành người người bình đẳng và công bằng chân chính, bất kể địa vị hay phe phái về tôn giáo hoặc chính trị; chung sống hòa bình, qua lại thương mại, hữu hảo chân thành với mọi quốc gia, mà không kết minh với bất kỳ quốc gia nào… Trí tuệ của tiên triết và máu tươi của anh hùng đều từng cống hiến cho việc thực hiện những nguyên tắc này; những nguyên tắc này nên là tín điều chính trị của chúng ta, sách giáo khoa giáo dục công dân, đá thử vàng kiểm nghiệm công việc của những người chúng ta tín nhiệm. Nếu chúng ta vì sai lầm hay kinh hoảng nhất thời mà rời bỏ những nguyên tắc này, thì hãy mau quay đầu, trở lại con đường lớn duy nhất thông tới hòa bình, tự do và an toàn.”
Quan niệm xã hội của Jefferson lấy sự tu hành nội tâm của mỗi cá thể làm tiền đề
Với Jefferson, mục đích của chính phủ tự chủ không phải thỏa mãn tư dục, mà là sự thể hiện của ý chí tự do của chúng ta. Giữa hai điều này có khác biệt một trời một vực; sự hiểu lầm về hàm nghĩa của “tự do” hiện đang đe dọa giá trị của Hợp chúng quốc, là một trong nhiều lý niệm bị xuyên tạc nghiêm trọng.
Jefferson từng viết: “Chúng ta tin rằng con người là động vật có lý trí; mỗi người sinh ra đã có quyền không thể tước đoạt và một cảm quan chính nghĩa nội tại; anh ta có thể chịu ràng buộc bên ngoài mà không lạc lối, đồng thời cũng có thể qua năng lực điều hòa của lòng tự tin khi tự mình quyết định mà được sức mạnh chính nghĩa bảo hộ, dựa vào ý chí của chính mình mà tận nghĩa vụ của mình.”
Jefferson nói cho chúng ta biết: nhân chi sơ tính bản thiện. Chúng ta có thể nắm vững con thuyền sinh mệnh của mình, lái tới bờ bên kia của chân đế đời người. Jefferson khẳng định sức mạnh hướng thiện trong linh hồn nhân loại. Do mỗi quyền lợi đều nghĩa là sức ảnh hưởng, nên chỉ dưới tiền đề khẳng định nhân tính mới có thể trao cho mỗi người bấy nhiêu quyền lợi. Những vấn đề vốn tưởng chỉ liên quan chính trị bên ngoài, những vấn đề không cần tìm câu trả lời nơi sâu thẳm linh hồn, nay đã không tránh khỏi cuốn chúng ta vào tận hạt nhân sâu thẳm của tín ngưỡng linh hồn mà truy căn tầm nguyên.
Sự sa đọa đạo đức là phẩm chất thấp kém nhất
“Sự sa đọa hay khiếm khuyết đạo đức của cá biệt người, cũng như khuyết tật của người tàn tật, không phải đặc trưng của một giống loài… Tôi chân thành tin… sự tồn tại phổ biến của xung động đạo đức, lý tính. Tôi cho rằng đó là viên trân bảo rực rỡ nhất trong nhân tính; sự sa đọa đạo đức là phẩm chất còn thấp kém hơn bất kỳ khuyết tật sinh lý đáng sợ nhất nào.”
Ở đây không có gì mập mờ nước đôi, con người sinh ra đã có bản năng phân biệt thiện ác. Jefferson tin chắc lương tâm con người là một phần trong thiên tính, cũng như thị giác, thính giác và xúc giác bẩm sinh của một người. Tính khả tố của một người cũng là bẩm sinh: anh ta có năng lực theo lành hướng thiện, năng lực đạt tới cảnh giới lý tưởng trong nội tâm.
Thế nào là sự theo đuổi hạnh phúc
Khi quan niệm “theo đuổi hạnh phúc” bị giải thích thành chủ nghĩa tiêu dùng, sự thoái hóa của lý niệm này có lẽ đã rõ rành rành. Sự theo đuổi hạnh phúc mà Jefferson và các tiên hiền khai quốc khác nói đến tuyệt đối không phải theo đuổi hàng tiêu dùng. Hạnh phúc Jefferson nói là chỉ tinh thần con người, bất kể trong hoàn cảnh ngoài thân anh ta, hay trong thể xác và linh hồn bên trong anh ta, là cảnh giới các cảm quan đạo đức và trí năng của anh ta hài hòa nhất trí với đại tự nhiên. Với Jefferson, người thông hiểu triết học tinh thần và truyền thống cổ kim của nhân loại, hạnh phúc không thể chỉ đánh dấu bằng với sự thỏa mãn dục vọng. Giả như khi hiểu sự theo đuổi hạnh phúc mà Jefferson nói, chúng ta mơ hồ cảm thấy đó là một quan niệm chủ yếu liên quan theo đuổi vật chất, thì chúng ta rất có thể đã hiểu lầm sơ tâm dựng nước của Mỹ. Mục đích các bậc tiền bối đổ máu sa trường hoàn toàn không phải để giành quyền hưởng hàng tiêu dùng vô tận.
Quan điểm của Jefferson đại biểu cho sự công nhận của Hợp chúng quốc đối với thuộc tính theo lành hướng thiện của nhân loại. Nghĩa là: trong tự thân chúng ta có một đặc tính thần thánh; đặc tính này đồng thời thể hiện trong mỗi cá thể chúng ta và trong đời sống quần thể của chúng ta. Đây không phải Ấn Độ giáo, dù nghe có chút quen tai. Đây cũng không phải thần thoại của Cơ Đốc giáo hay Do Thái giáo, dù nghe cũng có chút từng quen. Đây là bức chân dung nội hàm của Hợp chúng quốc, nó đã hòa vào ngôn ngữ của Hợp chúng quốc, đã cắm rễ sâu trong thổ nhưỡng của Hợp chúng quốc.
Đây chính là cách nhìn của Jefferson về thuộc tính nhân loại. Ông như một tín đồ quy y đứng trước thánh đàn; những lý niệm và lý tưởng khiến ông phấn chấn ấy, qua lý tính và tình cảm cực kỳ mẫn nhuệ của ông, đã chấn hưng hồn Hợp chúng quốc. Nhóm Jefferson thấy được chân đế về căn tính xấu của nhân loại mà Cơ Đốc giáo từ lâu đã thấy, nhưng họ có năng lực đồng thời cũng có nghĩa vụ dùng một ngôn ngữ mới trình bày những chân đế ấy, thứ ngôn ngữ là tiếng vọng đầu tiên của sự trở về tinh thần nhân loại; nó triển hiện trong nội tâm chúng ta viễn cảnh quang minh; trong ngôn ngữ ấy không mảy may mù quáng theo đuôi, mà tràn đầy lời gan ruột của tín ngưỡng tỉnh táo: ngôn ngữ của đạo đức, ngôn ngữ của lý trí tràn đầy nhiệt tình. Toàn bộ nội dung trong lý tưởng của Jefferson đều kiến lập trên niềm tin này. Cho nên chúng ta phải sáng lập một trật tự xã hội và một chính phủ như thế: nó vừa sùng thượng tự do, phát dương tinh thần nhân loại cao thượng thần thánh, đồng thời lại giám sát, ràng buộc cái xúc động đê tiện, lấy mình làm trung tâm, thứ chiếm địa vị chủ đạo trong lòng chúng ta trong đời sống thực tế. Đây là tính hai mặt tự mâu thuẫn trong nhân tính: nơi sâu thẳm nội tâm, chúng ta là người tự do, đồng thời lại là nô lệ; chúng ta vừa là thánh hiền vừa là dã thú; vừa cao thượng vừa sa đọa, vừa kiên cường vừa mỏng manh.
“Nhân quyền” là quyền của một người được chủ động thực hành sứ mệnh Thượng Đế ban cho
“Nhân quyền” với Jefferson không chỉ là quyền không bị chính phủ can thiệp, mà chỉ quyền của một người được chủ động thực hành sứ mệnh chân chính do Thượng Đế ban cho, cùng quyền làm một người cao thượng thông qua thần ý ẩn chứa trong nội tâm, hay còn gọi là lương tâm. Nhìn như thế, mục đích kiến lập Hợp chúng quốc là ở chỗ sáng tạo một chính phủ sao cho xã hội nhân loại dưới sự quản trị của chính phủ này sẽ trở thành một lực dẫn đạo về đạo đức và tín ngưỡng tinh thần, từ đó thúc đẩy sự thăng hoa tinh thần của toàn thể thành viên xã hội. Jefferson nhìn căn tính xấu của con người rất rõ, nhưng ông còn từ đáy lòng tin vào tính khả tố theo hướng lành, hướng thiện trong nhân tính. Với Jefferson, kết cấu của chính phủ như da và xương, bảo hộ và chống đỡ mỗi con người bằng xương bằng thịt để họ trong nội tâm phục tùng ngộ tính và lương tâm của chính mình, cũng chính là phục tùng “Thượng Đế” trong lòng họ.
Tổng thống Lincoln:
Cho đến khi mỗi giọt máu bị roi da quất ra được đền trả trọn vẹn bằng một giọt máu khác do lưỡi gươm đâm ra
Ngày 4 tháng 3 năm 1865, Lincoln nói rằng: “Nếu chúng ta giả định chế độ nô lệ của Mỹ là một trong những việc xấu ấy, mà theo thần ý thì sự xảy ra của nó là một tất nhiên; nhưng khi nó kéo dài hết quãng thời gian Ngài chỉ định, Ngài nay muốn hủy bỏ nó, rồi Ngài giáng tai họa chiến tranh thảm liệt này xuống đầu miền Nam và miền Bắc, cũng như giáng nỗi bi ai xuống đầu những kẻ đã làm việc xấu chế tạo chế độ nô lệ, thì chúng ta, những tín đồ của Thượng Đế, liệu có thể nhận ra trong đời sống mình những chỗ trái với phẩm chất thần thánh mà Thượng Đế có chăng? Hãy để chúng ta hết lòng hy vọng, kiền thành cầu nguyện, mong tai họa chưa từng có của cuộc chiến này sớm kết thúc. Nhưng, giả như Thượng Đế muốn chiến tranh tiếp tục, có lẽ cuộc chiến này sẽ làm tổn thất hết sạch của cải được tạo nên trong hai trăm năm mươi năm qua bằng mồ hôi xương máu không công của nô lệ, cho đến khi mỗi giọt máu bị roi da quất ra được đền trả trọn vẹn bằng một giọt máu khác do lưỡi gươm đâm ra. Đúng như người ba nghìn năm trước từng nói, nay chúng ta vẫn phải nói như thế: ‘Phán quyết của Thượng Đế luôn vừa chân thực vừa chính xác.'”
Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ra đời như thế và phấn đấu vì lý tưởng ấy, liệu quốc vận có bền lâu
Ngày 19 tháng 11 năm 1863, Lincoln trong bài diễn thuyết nổi tiếng tại chiến trường Gettysburg đã nói: “Tám mươi bảy năm trước, các tiên phụ của chúng ta đã kiến lập trên mảnh lục địa này một quốc gia mới. Quốc gia mới này là sản phẩm do tự do thai nghén sinh ra, lấy tín điều người người sinh ra bình đẳng làm mục tiêu phấn đấu. Nay, chúng ta đang trải qua một cuộc đại nội chiến, và cuộc nội chiến này đang kiểm nghiệm xem một quốc gia do tự do thai nghén sinh ra như thế, phấn đấu vì lý tưởng tự do như thế, hay bất kỳ quốc gia nào trên thế giới ra đời như thế và phấn đấu vì lý tưởng ấy, liệu quốc vận có bền lâu. Chúng ta nay tụ hội trên một chiến trường nổi tiếng của cuộc chiến này. Chúng ta sắp đem một phần chiến trường này hiến dâng cho những người đã hiến dâng sinh mạng mình vì sự sống còn của tổ quốc họ, lấy nơi đây làm chốn yên nghỉ cuối cùng của họ. Quyết định này của chúng ta hoàn toàn hợp tình hợp lý. Nhưng, xét từ góc độ rộng hơn, chúng ta căn bản không thể hiến dâng, chúng ta không thể tụng ca, chúng ta không thể thần thánh hóa mảnh đất này. Những dũng sĩ từng anh dũng chém giết nơi đây, bất kể còn sống hay đã chết, từ lâu đã dùng hành vi cao thượng hơn nhiều so với lời ngâm tụng bất lực của chúng ta để thần thánh hóa mảnh đất này rồi. Thế giới sẽ không mấy quan tâm những gì chúng ta hôm nay nói nơi đây, dù biết rồi cũng chẳng khắc cốt ghi tâm, nhưng thế giới sẽ mãi mãi không quên tất cả những gì họ đã làm nơi đây.”
Chúng ta thề nơi đây: máu tươi của các liệt sĩ này sẽ không đổ uổng
“Chúng ta, những người còn sống, càng nên hiến thân cho sự nghiệp cao cả chưa hoàn thành mà các liệt sĩ ấy từng phấn đấu nơi đây và từng anh dũng thúc đẩy. Chúng ta càng nên hiến thân vào sứ mệnh vĩ đại trước mặt chúng ta, nghĩa là hãy để chúng ta, từ tráng cử của những dũng sĩ vinh quang bỏ mình này, hấp thu thêm lòng trung thành với tổ quốc, lao mình vào sứ mệnh vĩ đại mà họ đã tận đến hơi thở trung thành cuối cùng. Chúng ta thề nơi đây: máu tươi của các liệt sĩ này sẽ không đổ uổng, quốc gia thuận theo ý chí Thượng Đế này sẽ thai nghén một nền tự do mới toanh, và khiến chính phủ của dân, do dân, vì dân này trường tồn mãi mãi.”
Cống hiến của Mỹ đối với thế giới đương đại
Khi Mỹ theo chủ nghĩa cô lập, trong hai mươi hai năm, thế giới xảy ra hai cuộc thế chiến. Thế chiến II, Mỹ chẳng những giúp các nước Đồng minh đánh bại phe Trục phát xít, mà sau chiến tranh Mỹ trở thành nhân tố chủ đạo hòa bình quan trọng nhất thế giới: chẳng những không xảy ra thế chiến nữa, kinh tế toàn thế giới cũng được phát triển to lớn và phồn vinh phổ biến.
Sau Thế chiến I, Tổng thống Mỹ Wilson đề xuất ý tưởng thành lập Hội Quốc Liên, nhưng vì các cường quốc châu Âu không đồng ý nên không thành công, và thế giới nhanh chóng chịu đủ tai họa của Thế chiến II. Trong Thế chiến II, Tổng thống Mỹ Roosevelt đã dùng thực lực của Hợp chúng quốc để thúc đẩy việc thành lập Liên Hợp Quốc, đồng thời hỗ trợ lâu dài cho sự vận hành của tổ chức này. Sau chiến tranh, Mỹ thông qua nhiều phương thức, bao gồm cả khuyên răn và gây áp lực, nhằm khiến các nước thực dân trên thế giới từ bỏ chủ nghĩa thực dân.
Mỹ cùng các nước đồng minh tự do phương Tây liên hợp kiến lập hệ thống kinh tế thị trường phạm vi toàn cầu, để các quốc gia khác cũng hưởng lợi từ đó.
Mỹ cùng các nước đồng minh tự do phương Tây đẩy mạnh ngoại giao nhân quyền trong phạm vi toàn thế giới, đem lý niệm nhân loại dần ngưng tụ trên giá trị cốt lõi tôn trọng nhân quyền và tự do. Nếu không phải Mỹ đóng vai cảnh sát thế giới, không phải dẫn đầu cùng liên minh tự do phương Tây bảo vệ hòa bình thế giới, giữ gìn trật tự cộng đồng quốc tế, thì cục diện thế giới hôm nay sẽ là bộ dạng khác.
Trung Quốc từng ít nhất ba lần hưởng ơn nước Mỹ
(1) Trong Thế chiến II, Mỹ giúp Trung Quốc đánh bại quân xâm lược Nhật Bản; (2) khi Xô – Trung trở mặt, sự giao thiệp của Mỹ với Trung Quốc giúp năng lực kháng cự của Trung Quốc; (3) Mỹ mở thị trường của mình cho Trung Quốc, giúp Trung Quốc giàu lên, và cuối cùng giúp Trung Quốc gia nhập WTO.
“Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” từng một thời là hy vọng của cả thế giới
Đó là một thứ hy vọng thế nào? Dù sự theo đuổi hưởng thụ vật chất là một phần của hy vọng ấy, dù nỗi khát khao bình đẳng và tự do cũng là bộ phận cấu thành quan trọng của hy vọng ấy, dù hòa bình và an định nơi đây với chúng ta đều vô cùng quý báu, nhưng hy vọng mà “Hợp chúng quốc” mang đến cho nhân loại cao hơn sự theo đuổi vật chất của chúng ta, hơn cả nỗi khát khao bình đẳng và tự do của chúng ta, vượt trên sự khao khát hòa bình yên ổn của chúng ta.
Xét từ tầng sâu hơn, bất kể từ góc độ cá nhân hay tổng thể, hy vọng mà “Hợp chúng quốc” bao hàm là nỗi khát vọng về thuộc tính bên trong của con người cùng cảnh giới tinh thần mà con người có thể đạt tới. Chính qua nỗi khát vọng tinh thần này, lời hứa của “Hợp chúng quốc” đối với đời sống vật chất và đời sống xã hội của nhân loại mới có thể như một bó đuốc, một ngọn đèn sáng và một tiếng gọi, thu hút già trẻ gái trai trong biên giới mỗi quốc gia trên thế giới. “Hợp chúng quốc” từng có một thời là một lý tưởng vĩ đại.
Nếu chúng ta giả định “Hợp chúng quốc” trên thực tế đại biểu dòng chủ lưu của văn hóa thế giới ngày nay, thì khi “Hợp chúng quốc” đánh mất ý nghĩa tồn tại của chính mình, thế giới này sẽ đi về đâu? Cho nên cuộc thảo luận về mệnh đề “Hợp chúng quốc” sẽ trực tiếp dẫn chúng ta suy ngẫm sâu về mục đích và chốn về của đời sống nhân loại ngày nay.
Quan niệm giá trị của “Hợp chúng quốc” kỳ thực là tổng hợp thể của văn minh cổ xưa và giá trị phổ quát đương thế: vừa có nội dung cảnh giới cao nhất của tinh thần nhân loại, vừa có những lý niệm đan xen giữa đạo đức và xã hội nhân loại, loạt giá trị phổ quát nhân loại này từng mang hy vọng và sức sống đến cho thế giới. Những nội dung về Thượng Đế, tín ngưỡng, đạo đức, pháp tắc, linh hồn nhân loại trong giá trị của “Hợp chúng quốc” thể hiện trí tuệ văn minh cổ xưa của nhân loại.
Lý niệm tự do của Hợp chúng quốc
Dưới đây là đoạn văn bản đã được biên tập lại: loại bỏ toàn bộ các dấu gạch ngang vô nghĩa, thay thế bằng dấu phẩy và chỉnh sửa câu cú cho đúng chuẩn ngữ pháp, mượt mà theo văn phong tiếng Việt.
Hàm nghĩa căn bản nhất trong giá trị phổ quát của Hợp chúng quốc là mỗi người đều có quyền tìm tòi và làm chủ lương tâm của chính mình. Tự do chính trị trước hết và quan trọng nhất là sáng tạo một môi trường xã hội cho phép mỗi người đi tìm tòi đạo đức của tự thân. Nhưng lý niệm và quyền lợi này nay đã bị hiểu chỉ còn là quyền thỏa mãn dục vọng chủ quan của một người, những dục vọng ấy không tham chiếu bất kỳ tiêu chuẩn đạo đức nội tâm nào, bởi tiêu chuẩn đạo đức chân chính đều đã thay đổi. Thế là, lý niệm tự do bị hạ thấp thành sự sùng bái và theo đuổi dục vọng cùng vật chất, đây là biểu hiện lý niệm tự do bị dung tục hóa.
Các quốc phụ của Hợp chúng quốc như Washington, Jefferson, Franklin, Lincoln không hề khái niệm hóa, hình thức hóa, hay dung tục hóa dân chủ thành một kết cấu chính phủ bề mặt. Chính thể cộng hòa ngay từ đầu đã được kiến lập trên hiện trạng thiện ác cùng tồn tại, tức tính hai mặt của con người. Với các quốc phụ, sự kiến lập ban đầu và kiện toàn dần dần của hình thái xã hội Mỹ đều là để dân chúng, với tư cách người thực tiễn của chế độ đương đại, làm cỗ xe chở sự theo đuổi không ngừng cảnh giới tinh thần cao hơn mà thôi.
Con người phải là công dân tận trách, đây là tiền đề của mọi quyền lợi được hiến pháp bảo đảm. Rời xa tiền đề này, các quốc phụ không thể tưởng tượng nổi sự bảo đảm quyền con người và hình thức chính phủ. Trong lý niệm lúc lập quốc của họ, tự nhiên là mong hình thức quốc gia bảo hộ tự do, bảo đảm trách nhiệm và quyền lợi của công dân có trách nhiệm, bảo đảm nỗ lực không mỏi của sự theo đuổi tinh thần tự do, từ đó bảo đảm tinh thần của tổng thể xã hội và cá nhân không vì sự thúc đẩy của tư lợi và dục vọng mà suy bại, sa đọa quá sớm.
Nội hàm của thế giới tinh thần cá nhân bên trong và đạo đức xã hội này có nhiều nội dung: lương tri, tín ngưỡng, sự tuân giữ chính nghĩa, thể ngộ ý chỉ của Thần, an phận trong sự che chở của Thần. Nhưng khi sự tuân giữ ấy trở nên chẳng đáng kể, hữu danh vô thực, thì tinh thần thực chất của Hợp chúng quốc liền mất đi sức ngưng tụ và sức hấp dẫn chân thực của nó. Nếu cái vỏ của nó vẫn giữ được đẹp đẽ và bóng bẩy, thì nó biến thành vật trang trí không nội hàm.
Kết cấu xã hội công chính và phương thức vận hành trong lý niệm của các quốc phụ không phải quần thể con rối dưới sự cưỡng bức của pháp luật, mà là hình thức ngưng tụ của kết cấu tâm lý lành mạnh và sự tịnh hóa tâm linh của những thành viên xã hội tận chức tận trách.
Washington, Jefferson, Lincoln là hóa thân hình tượng của những tinh thần lập quốc Hợp chúng quốc này. Họ được coi là vĩ nhân, vì hành vi của họ vượt lên và thay đổi cảnh giới đạo đức của nhân loại đương thời, thể hiện ý hướng nhân loại mới sáng soi hậu nhân.
Hôm nay có cần thiết một lần nữa hồi cố họ, nhận thức lại họ. Nhận thức họ không phải vì họ, mà vì chính chúng ta, để nhìn rõ hơn thời đại chúng ta đang sống, cùng vì sao thời đại này suy bại, mối quan hệ giữa việc chúng ta đánh mất bản chất tự thân và nguồn gốc khổ nạn.
Có người Trung Quốc cho rằng nước Mỹ bị chủ nghĩa bái kim ăn mòn
Dưới đây là đoạn văn bản đã được biên tập lại: loại bỏ các dấu gạch ngang vô nghĩa, thay thế bằng dấu phẩy và tinh chỉnh câu cú cho đúng ngữ pháp, mạch lạc theo văn phong tiếng Việt.
“Cảm ơn Hợp chúng quốc cho chúng ta thấy cái ví dụ phản diện cực đoan: một quốc gia từng chuyên chở hy vọng của con người và chủ nghĩa lý tưởng, đã từ từ bị chủ nghĩa bái kim ăn mòn thế nào, cuối cùng bị chính dân chúng dựng nên nó vứt bỏ. Hợp chúng quốc sẽ không sụp đổ đột ngột, mà chỉ từ từ mục nát.”
“Chính phủ Mỹ bây giờ đến nhà tư bản của chính mình cũng trị không nổi. Ôi, ngày một xuống dốc, cách bạo lực chẳng xa nữa rồi!”
Phần thứ năm: Vì sao chính sách đối Hoa hiện nay của Mỹ thất bại
Hai nguyên nhân thất bại của chính sách đối Hoa của Mỹ
Hai mươi năm trước, Mỹ dùng phương thức Chiến tranh Lạnh chiến thắng trận doanh cộng sản chủ nghĩa của Liên Xô và Đông Âu. Hai mươi năm sau, Mỹ đối mặt Trung Cộng, kẻ năm xưa tôn Đảng Cộng sản Liên Xô làm “anh cả”, thực lực kinh tế và quân sự của nó so với Mỹ đều không bằng Đảng Cộng sản Liên Xô bấy giờ. Vậy mà nước Mỹ ngày nay, trong quan hệ đối Hoa trên trường quốc tế, lại thường ở địa vị bị động. Việc nước này đẩy mạnh lý niệm dân chủ tự do sang Trung Quốc ngày càng suy yếu, trong khi thế công của Trung Cộng đối với Mỹ trên trường quốc tế ngày càng mạnh. Mỹ đối với Trung Cộng nghiễm nhiên đã ở tư thế phòng thủ, có những lĩnh vực đến ý thức phòng thủ cũng không có, lại càng bất lực phản kích.
Sơ tâm của Tổng thống Mỹ Nixon khi bang giao với Trung Cộng năm xưa là để liên minh với Trung Cộng đánh sập Đảng Cộng sản Liên Xô; Đảng Cộng sản Liên Xô sụp đổ rồi, chính sách đối Hoa của Mỹ liền thành gân gà (bỏ thì tiếc, ăn chẳng ngon). Hai mươi năm sau đó, cách nói về chính sách đối Hoa của Mỹ về cơ bản là chính sách “tiếp xúc” (Engagement); giải thích chính thức là: qua tiếp xúc giao thiệp với Trung Quốc, dần dần diễn biến hòa bình Trung Quốc thành quốc gia tự do, dân chủ, pháp trị.
Dùng phương thức Chiến tranh Lạnh tiêu hao thực lực cứng cố nhiên có thể đánh sập một khối khổng lồ như Đảng Cộng sản Liên Xô, nhưng dùng phương thức “tiếp xúc” của “diễn biến hòa bình” để dân chủ hóa Trung Quốc chưa hẳn đã không khả thi. “Diễn biến hòa bình” rốt cuộc không cần tiêu hao quốc lực một cách lãng phí, lại càng không cần đánh nhau. Nếu thật sự đạt được mục đích, đây đáng được gọi là trí tuệ ngoại giao vượt trội hơn cả Chiến tranh Lạnh. Thế nhưng, hai mươi năm trôi qua, Trung Quốc dưới ách thống trị của Trung Cộng chẳng có tiến bộ gì về chính trị, điều đó có nghĩa là chính sách “tiếp xúc” này đã thất bại rồi.
Hồi cố nguyên nhân thất bại của chính sách đối Hoa của Mỹ chủ yếu có hai: thứ nhất, về đạo nghĩa, lấy lợi ích kinh tế làm trên hết, từ bỏ nguyên tắc lập quốc; thứ hai, về nhận thức, nhìn không rõ sự tà ác của Trung Cộng, trong quá trình giao thiệp với Trung Cộng hết lần này đến lần khác bị Trung Cộng lừa.
Năm chỗ thất đáng trong thi hành chính sách đối Hoa
Mấy khóa chính phủ Mỹ sau Tổng thống Reagan, trong thi hành chính sách đối Hoa có năm chỗ thất đáng sau:
Một, mở thị trường vô hạn chế cho Trung Cộng
Sau chiến tranh, Mỹ vọt lên thành cường quốc số một thế giới. Nền kinh tế phát đạt cao độ khiến thị trường trong nước Mỹ thành thị trường thống nhất chín muồi, hiệu quả nhất thế giới. Nhìn suốt lịch sử kinh tế thế giới sau Thế chiến II: phàm thị trường Mỹ mở cho quốc gia hay khu vực nào, quốc gia hay khu vực ấy liền có thể rất nhanh giàu mạnh lên. Kế hoạch Marshall chấn hưng châu Âu là thế; sự làm giàu của các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan không ngoại lệ.
Hiệp định quan hệ thương mại Trung – Mỹ ký khi hai nước bang giao năm 1979: hai nước trao nhau “quy chế tối huệ quốc”. Nhưng Mỹ cần thẩm định hàng năm “quy chế tối huệ quốc” đối với Trung Quốc. Như vậy khiến “quy chế tối huệ quốc” thành thủ đoạn cứng chế ước Trung Cộng: mỗi kỳ thẩm định, phía Mỹ có thể lấy các điều kiện như nhân quyền ép Trung Cộng, Trung Cộng cũng buộc phải cúi đầu. Bởi sau 1978, tăng trưởng kinh tế thành nguồn duy nhất của tính chính danh cầm quyền của Trung Cộng; mà mất thị trường Mỹ chính là mất nguồn tăng trưởng kinh tế. Cho nên “quy chế tối huệ quốc” thực là một con bài bóp cổ họng Trung Cộng.
Năm 2000, chính quyền Clinton ký nghị án quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn đối Hoa (PNTR), khiến đạo luật do lưỡng viện Mỹ thông qua này chính thức thành luật pháp Mỹ. Việc ký đạo luật này khiến thị trường Mỹ vĩnh viễn, không chịu bất kỳ hạn chế nào, mở toang cho Trung Quốc. Trung Cộng từ đó vứt bỏ được một mối e ngại lớn với Mỹ; còn Mỹ thì mất một con bài thực lực chế ước Trung Cộng. Một số quan chức Mỹ hiện nay đối mặt nhiều cách làm của Trung Cộng tuy phẫn nộ nhưng bó tay, câu thường nói là: chúng ta đã không còn leverage, tức không còn thủ đoạn phản chế Trung Cộng nữa.
Đằng sau đạo luật này tự nhiên là các đại tài đoàn Mỹ nhắm vào lao công giá rẻ của Trung Quốc, từ đó thuyết phục giới chính trị Mỹ mở đường cho việc họ đầu tư vào Trung Quốc. Chính phủ Mỹ vì lợi ích kinh tế mà từ bỏ lập trường nhân quyền dân chủ. Một năm trước khi ký đạo luật, Trung Cộng vừa bắt đầu cuộc trấn áp quần chúng Pháp Luân Công trên cả nước, chính phủ Mỹ không phải không thấy. Khi thông qua đạo luật này tuy kèm việc lập một ủy ban Quốc hội giám sát pháp chế và nhân quyền Trung Quốc, nhưng việc ủy ban này làm chẳng qua mỗi năm ra một bản báo cáo, không có bất kỳ sức ràng buộc thực chất nào.
Thị trường Mỹ mở ra rồi thì không đóng lại được nữa. Lợi ích kinh tế, thông qua phát triển kinh tế và lưu thông thị trường, sẽ như quả cầu tuyết càng lăn càng lớn, đóng chặt trái tim các đại tài đoàn vào thị trường Trung Quốc, từ đó vận động chính phủ Mỹ vì lợi ích của Trung Cộng. Cứ thế, Trung Cộng ngược lại không đánh mà thắng nước Mỹ.
Chính phủ Mỹ khi đối đãi với nhiều chính quyền độc tài đều áp dụng chính sách củ cà rốt cộng cây gậy, duy chỉ với Trung Quốc là lại vứt bỏ cây gậy.
Hai, chú trọng thực lực cứng, xem nhẹ thực lực mềm
Nhiều quan chức Mỹ xử lý sự vụ đối Hoa từng là chuyên gia vấn đề Liên Xô. Họ thường dùng bộ tư duy và cách làm đối với Liên Xô để đối với Trung Cộng, tức chú trọng thực lực cứng. Bao năm nay, vấn đề Trung Quốc mà Mỹ quan tâm chủ yếu là kinh tế và quân sự.
Chỗ Trung Cộng độc hơn Đảng Cộng sản Liên Xô là giỏi qua lừa dối và dư luận mà tranh đoạt lòng người, từ đó chuyển hóa thực lực mềm thành thực lực cứng, cuối cùng đánh sập đối thủ.
Trung Cộng ngày nay, đối mặt Mỹ và áp lực quốc tế sau Lục Tứ 89, càng chú trọng cuộc công thủ chiến về thực lực mềm.
Một mặt, trong tuyên truyền hướng vào dân chúng trong nước, luôn coi Mỹ là kẻ thù số một; dây đàn “phản Tây hóa”, “phản diễn biến hòa bình” của nó căng rất chặt. Truyền thông Mỹ muốn vào Trung Quốc khó hơn lên trời; sự khống chế của nó đối với Internet, đối với thông tin tự do là trọng trong trọng của vận hành trong nước. Mục đích làm thế là để bảo hộ hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa của nó không dễ bị tư tưởng tự do phương Tây do Mỹ đứng đầu ăn mòn.
Ngoài phòng bị Mỹ, Trung Cộng còn áp dụng một tư thế tấn công. Ví như mỗi năm qua đủ danh nghĩa bỏ tiền mời quan chức liên bang, tiểu bang và địa phương của Mỹ thăm Trung Quốc. Những gì họ thấy nghe ở Trung Quốc đều là những gì Trung Cộng muốn cho họ nghe cho họ thấy. Nay gần như mỗi nhà mỗi hộ ở Mỹ đều có thể thu được chương trình tiếng Anh của Đài Truyền hình Trung ương Trung Cộng; China Daily phát hành công khai tại Mỹ; mấy chục Học viện Khổng Tử của Mỹ có lượng lớn thanh niên Mỹ đang học thứ tiếng Trung mà giáo viên Hán ngữ do Trung Cộng phái sang dạy họ. Đồng thời, Trung Cộng những năm nay ra sức xuất khẩu các dự án văn hóa sang Mỹ, bề ngoài là văn hóa truyền thống Trung Quốc, thực chất là thứ Trung Cộng nhồi vào đầu óc dân chúng Mỹ.
Trong cộng đồng người Hoa ở Mỹ, truyền thông Hoa ngữ họ xem hàng ngày phần lớn bị Trung Cộng thao túng hoặc mua chuộc. Sứ quán, lãnh sự quán Trung Cộng trú Mỹ tiếp xúc lâu dài với cộng đồng người Hoa địa phương, không ngừng đưa những người này về Trung Quốc họp hành hay du lịch. Nhiều người Hoa ở Mỹ, tuy nhiều người đã nhập quốc tịch Mỹ, lòng hướng về thực chất là Trung Cộng; mà nhiều người Hoa như thế hoạt động sôi nổi trong xã hội chủ lưu Mỹ, bao gồm các ban ngành chính phủ Mỹ các cấp.
Mấy chục năm làm lâu dài như thế, lượng biến đến mức nhất định sẽ phát sinh chất biến. Trung Cộng sẽ có ngay trong sân nhà nước Mỹ một đội quân đồng minh ngày càng lớn mạnh. Kỳ thực, đội quân đồng minh này đã phát huy tác dụng: luận điệu “Đồng thuận Bắc Kinh”, thực chất là tuyên truyền cho Trung Cộng, đã bước lên diễn đàn của các nhóm cố vấn Mỹ; truyền thông chủ lưu của Mỹ đã bắt đầu ca ngợi hiệu suất cao của thể chế độc tài Trung Cộng; mỗi khi gặp sự kiện ảnh hưởng đến quan hệ Trung – Mỹ, lại có đông đảo người Hoa ở Mỹ nói đỡ cho Trung Cộng; thậm chí, người Hoa ở Mỹ còn công khai bức hại, quấy nhiễu các nhân sĩ dân chủ và đoàn thể tín ngưỡng ngay trên đất Mỹ.
Nhìn ngược lại, Mỹ về phương diện này thiếu sự cảnh giác cần thiết. Vì là xã hội dân chủ, nên với sự tiến vào và thẩm thấu của truyền thông, văn hóa, nhân viên của Trung Cộng, về cơ bản là cửa mở toang không phòng bị. Chẳng những không phòng bị, nhiều quan chức Mỹ còn không ý thức được. (Ví như Bộ Thương mại Mỹ trao giải truyền thông sắc tộc thiểu số xuất sắc nhất vùng Đông Nam nước Mỹ năm 2009 cho “China Daily • bản Mỹ”【38】.) Còn nói đến chủ động tuyên truyền lý niệm tự do dân chủ sang Trung Quốc thì càng ít. Công ty lớn đến Trung Quốc chỉ để kiếm tiền, chẳng những không thay đổi được Trung Cộng, còn bị Trung Cộng thay đổi, cũng nhập gia tùy tục học được hủ bại, học được cách bức hại dân chúng Trung Quốc. Các công ty truyền thông, Internet của Mỹ hoặc vào không nổi Trung Quốc, hoặc vào được cũng chỉ sống trong không gian cực kỳ hữu hạn, chẳng phát huy được bao nhiêu tác dụng.
Sự tụt hậu về thực lực mềm sẽ khiến sự phát huy thực lực cứng của Mỹ chịu hạn chế rất lớn. Nói nghiêm khắc, ngay cả nước Mỹ chưa ra khỏi khủng hoảng tài chính vẫn là cường quốc kinh tế quân sự số một thế giới; nhưng nhìn mấy năm gần đây, phong thái lãnh tụ một nước dẫn đầu hoàn cầu của Mỹ trong công việc quốc tế đã không còn; việc gì cũng phải phối hợp đa phương, kết quả thường chẳng nên chuyện gì. Nhiều việc bảo vệ chính nghĩa nhân gian hễ bị Nga và Trung Quốc chặn đánh, Mỹ ngoài kháng nghị vài câu ngoài miệng, chẳng đưa ra nổi hành động thực chất nào.
Theo một nghĩa nào đó, nếu Mỹ có thể dốc sức đẩy mạnh lý niệm dân chủ tự do như Trung Cộng đẩy mạnh ý thức cộng sản của nó, thì cục diện hoàn toàn khác. Nhưng rất rõ, từ sau Tổng thống Reagan, điều này dường như chưa từng là trọng tâm chính sách đối Hoa của Mỹ. Vấn đề là Trung Cộng luôn làm, mà càng làm càng hăng. Cứ thế mãi, Mỹ sẽ mất lòng người.
Ba, trong giao thiệp với Trung Cộng, coi Trung Cộng là con người bình thường
Chính phủ Mỹ giao thiệp với Trung Cộng rất giống tú tài gặp lưu manh. Tú tài có thể với người có đáy tuyến đạo đức mà giảng hàm dưỡng, giảng đạo lý, giảng khiêm nhường, giảng quy củ; nhưng nếu đem những thứ ấy đối với lưu manh, chỉ có thể bị lưu manh lừa.
Dưới đây là toàn bộ đoạn văn bản đã được chỉnh sửa: xóa bỏ hoàn toàn các dấu gạch ngang vô nghĩa, thay bằng dấu phẩy và tinh chỉnh câu cú cho đúng chuẩn ngữ pháp, trôi chảy theo văn phong tiếng Việt.
Đặc điểm của lưu manh: một là nói lời không giữ lời, nếu trông mong lưu manh thực hiện lời hứa của mình thì chỉ có thể nói chưa nhìn rõ bản chất lưu manh. Năm xưa Bắc Kinh xin đăng cai Olympic 2008, cộng đồng quốc tế bấy giờ yêu cầu Trung Cộng cải thiện nhân quyền trước năm 2008, Trung Cộng tự nhiên đầy mồm nhận lời. Trước Olympic 2008, Trung Cộng ồ ạt bắt giữ học viên Pháp Luân Công, giam cầm nhân sĩ bất đồng chính kiến, nhưng cộng đồng quốc tế phê bình nữa thì sao? Olympic vẫn mở, nguyên thủ các nước vẫn đến. Thử nghĩ: nếu Trung Cộng không cam kết cải thiện nhân quyền, cộng đồng quốc tế có cho phép Bắc Kinh tổ chức Olympic không? Nhưng làm sao có thể tin lời hứa của một chính quyền lưu manh?
Khi Trung Cộng xin nhập WTO cũng đáp ứng rất nhiều điều kiện. Nhưng một khi vào WTO rồi, theo điều khoản khi nhập WTO ban đầu, nhiều việc phải làm đúng hạn cứ mãi không thực hiện, khiến chính phủ các nước chẳng làm gì nổi Trung Cộng. Lợi thì chiếm hết, trách nhiệm thì không gánh, vẫn là ban đầu tin lời hứa của lưu manh.
Hai là mềm nắn rắn buông (bắt nạt kẻ mềm, sợ kẻ cứng): anh nhường lưu manh một bước, nó liền lấn tới. Tổng thống Obama sau khi nhậm chức, khi thăm Trung Quốc năm 2009 đã cố ý không cao giọng phê bình hồ sơ nhân quyền tồi tệ của Trung Quốc, với dụng ý là lấy đó đổi sự ủng hộ của Trung Cộng đối với Mỹ trong các sự vụ khí hậu và năng lượng. Nhưng Trung Cộng không nhận cái tình ấy: anh không phê bình nhân quyền của nó chính là tỏ ra yếu, nó liền bắt nạt anh. Kết quả tại một buổi tụ họp lãnh tụ các nước ở Hội nghị khí hậu Copenhagen cuối năm ấy, Trung Quốc chỉ phái một quan chức hạng hai của Bộ Ngoại giao ngồi đối diện thẳng với Obama. Trong hội nghị có mấy lần, nguyên thủ các nước lại phải chờ quan chức Trung Quốc rời ghế đi gọi điện xin chỉ thị cấp trên. Trung Cộng có câu: “Ngoại giao vô tiểu sự.” Trong một trường hợp như thế mà làm ra chuyện như thế, tuyệt không phải hành vi cá nhân của một quan chức Trung Cộng. Về vấn đề khí hậu, Trung Cộng không nhường nửa bước, ngược lại còn chỉ trích Mỹ và các nước phương Tây.
“Đầu đào báo lý” (tặng đào đáp mận) là hồi ứng bình thường khi giao thiệp với người có đạo đức, nhưng lưu manh tuyệt không nghĩ thế. Anh tốt với nó một chút, khoan dung một chút, nó liền cho là mình chiếm lý, ngược lại đòi trèo lên đầu anh bắt nạt anh. Ngược lại, nếu anh kiên trì nguyên tắc và cứng rắn với nó, nó liền sợ.
Từ khi đắc cử năm 2006, Thủ tướng Canada Harper từng nêu rõ: quan niệm giá trị và các lý niệm như nhân quyền của Canada sẽ không bị “đồng tiền toàn năng” chà đạp. Sau đó Ottawa trao cho Đạt Lai Lạt Ma danh hiệu “Công dân danh dự Canada”, phê bình dữ dội hồ sơ nhân quyền Trung Cộng, tỏ thái độ hữu hảo với Đài Loan, đồng thời lên án hành vi gián điệp thương mại của Trung Cộng. Harper không dự lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008. Cuối năm 2009, khi Harper lần đầu thăm Trung Quốc, chẳng có gì lạ khi truyền thông Trung Cộng phê bình ông, còn Harper trong các dịp công khai suốt chuyến thăm vẫn tiếp tục nói về nhân quyền và khẳng định Canada sẽ “như trước nêu các nghị đề nhân quyền và tự do”. Một số truyền thông Canada cho rằng lập trường nhân quyền cứng rắn của Harper trên thực tế đã giúp Canada trong đàm phán lĩnh vực thương mại. Chuyến thăm năm 2009, Harper ký hàng loạt điều khoản thương mại, trong đó có hiệp định Trung Quốc nhập khẩu trở lại thịt lợn Canada (thứ mà các thủ tướng Canada tiền nhiệm muốn ký mà không ký nổi) cùng hiệp định để người Trung Quốc thuận tiện hơn sang Canada du lịch.
Lưu manh còn giở đủ trò khiến anh vào tròng. Ví như, sau sự kiện “Lục Tứ” năm 1989, Trung Cộng gặp cảnh bốn bề Sở ca trên trường quốc tế. Đối mặt với phê bình nhân quyền của các nước, nó liền nghĩ ra một chiêu: nói với các chính phủ phương Tây rằng đàm phán nhân quyền thì được, nhưng phải đóng cửa mà đàm. Kết quả các nước Âu Mỹ lũ lượt vào tròng, từng nhà từng nhà đóng cửa đàm nhân quyền với Trung Cộng. Thực chất, một mặt việc này khiến tiếng nói phê bình Trung Cộng trên trường quốc tế lặng xuống, còn Trung Cộng vẫn có thể “ta làm ta chịu” mà không chút bị chế ước. Mặt khác, các chính phủ về vấn đề nhân quyền đạt giao dịch riêng tư gì với Trung Cộng thì chỉ Trung Cộng và chính phủ các nước biết, đông đảo dân chúng không biết, truyền thông chủ lưu cũng không biết. Đây kỳ thực là việc Trung Cộng thông qua phương thức ấy để thao túng các chính phủ đi vào các thao tác hộp đen trái với chính trị dân chủ trong vấn đề nhân quyền.
Lại như, mỗi khi Trung Cộng chịu áp lực về vấn đề nhân quyền, hoặc gặp lúc tổng thống Mỹ sắp thăm Trung Quốc, nó liền thả một nhân sĩ bất đồng chính kiến bị giam để làm tư thế, tạo giả tượng nhân quyền cải thiện. Quan chức Mỹ giao thiệp với Trung Cộng thường coi đó là thắng lợi ngoại giao, nào biết đây chỉ là một kiểu bố thí ngoại giao của Trung Cộng. Một mặt áp lực quốc tế nhẹ đi, đồng thời quan chức Mỹ làm việc có cái để giao đãi và có “thành tích chính trị”, đáng gọi là một thả hai tiện. Nhưng thực chất, sự trấn áp của Trung Cộng đối với dân chúng không mảy may giảm: thả một người, Trung Cộng quay đầu có thể bắt thêm vài trăm người vào.
Bốn, dốc sức giao thiệp lợi ích với Trung Cộng, quên kết bạn với nhân dân Trung Quốc.
Đối tượng tiếp xúc của chính sách “tiếp xúc” đối Hoa của chính phủ Mỹ chủ yếu là chính phủ Trung Quốc và quan chức Trung Cộng, không phải dân chúng Trung Quốc. Ở quốc gia dân chủ thông thường, chính phủ do dân bầu, giữa chính phủ và dân chúng không có mâu thuẫn lớn. Nhưng Trung Quốc thì khác: chính quyền Trung Cộng cùng chính phủ mà nó nắm giữ không phải là một chính quyền hợp pháp, cũng không thể đại diện cho dân chúng Trung Quốc.
Các đời tổng thống Mỹ chưa vị nào khi chính thức thăm Trung Quốc tiếp kiến những nhân sĩ bị Trung Cộng đàn áp. Trong mấy chục năm qua, nhiều nguồn vốn của Mỹ dùng để giúp phát triển dân chủ Trung Quốc cũng đi qua chính phủ Trung Quốc. Sự qua lại giữa chính phủ Mỹ – Trung đáng gọi là tầng tầng lớp lớp, hoa cả mắt: có qua lại giữa các nguyên thủ, có hội đàm chiến lược cấp cao, có qua lại cấp thống đốc – tỉnh trưởng, và có cơ chế tầng chính đảng. Còn giữa chính phủ Mỹ với dân chúng Trung Quốc, đặc biệt là với dân chúng bị Trung Cộng đàn áp, gần như không có cơ chế qua lại cố định nào.
Cách làm thiên về tiếp xúc chính phủ Trung Quốc và quan chức Trung Cộng này không hợp lắm với lý niệm dân chủ. Với Mỹ, cái lợi của việc kết bạn với nhân dân Trung Quốc có hai phương diện:
Một, đứng cùng dân chúng Trung Quốc là có vũ khí hùng mạnh chế ước Trung Cộng. Trung Cộng trên trái đất sợ hai thứ: một là chính phủ Mỹ, hai là dân chúng Trung Quốc. Mục đích mấy chục năm gần đây nó một mực làm kinh tế cũng là để lấy phát triển kinh tế giành sự công nhận của dân chúng Trung Quốc, từ đó có tính chính danh cầm quyền. Một khi dân chúng không công nhận nó, ngày tận của Trung Cộng liền đến. Cho nên dù một mặt đàn áp dân chúng, mặt khác nó cũng lấy lợi ích kinh tế lôi kéo dân chúng. Nhưng đại đa số dân chúng Trung Quốc không ở tầng lớp quyền quý, họ trong lịch sử và hôm nay đều từng chịu Trung Cộng bức hại. Nếu chính phủ Mỹ có thể thật lòng giúp họ, lên tiếng vì tự do, quyền lợi, tín ngưỡng của họ, thì sẽ giành được sự ủng hộ của họ. Tuy Trung Cộng mấy chục năm luôn yêu ma hóa nước Mỹ, lâu dài nhồi hệ tư tưởng cộng sản cho nhân dân Trung Quốc, đại đa số dân chúng chỉ là sợ dưới áp lực cao, chứ lòng người không hướng về Trung Cộng. Nhưng nếu chính phủ Mỹ không thể hiện được sự kiên thủ đối với gốc lập quốc, lý niệm tự do của mình, mà một mực đặt lợi ích kinh tế lên trên hết, thì dân chúng Trung Quốc cũng nhìn thấy và họ có thể thất vọng về nước Mỹ.
Mặt khác, bất kể chính cục Trung Quốc biến ảo thế nào, tương lai Trung Quốc nhất định thuộc về 1,3 tỷ nhân dân Trung Quốc, có được họ chính là có được tương lai Trung Quốc. Ngược lại, tiếp xúc và kết bạn với chính quyền chuyên chế hiện tại chỉ có thể là ngắn ngủi, không có tương lai.
Mùa xuân Ả Rập ở Trung Đông đã cho một bài học sâu sắc. Chính sách ngoại giao của Mỹ với Ai Cập cũng là “tiếp xúc”, mà là tiếp xúc với kẻ độc tài Ai Cập, coi hắn là đồng minh của Mỹ ở Trung Đông. Tháng 3 năm 2009, Hillary Clinton thăm Ai Cập; truyền thông hỏi hồ sơ chính phủ Ai Cập xâm phạm nhân quyền trong báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ có ảnh hưởng đến chuyến thăm Nhà Trắng của Tổng thống Ai Cập Mubarak bấy giờ không, Hillary đáp: “Hai chuyện này không liên quan. Tôi coi Tổng thống Mubarak cùng phu nhân là bạn của gia đình tôi. Nên tôi mong được thường gặp ông ấy ở Ai Cập và Mỹ.” Đầu năm 2011, sau khi Ai Cập xảy ra cuộc kháng nghị của dân chúng, chính phủ Mỹ rơi vào cảnh vô cùng khó xử. Sau khi Mubarak rời đài, các thế lực chính trị lớn của Ai Cập đều mang thái độ phản Mỹ.
Năm, nhân quyền và dân chủ thành đồ trang trí trong ngoại giao đối Hoa.
Trong thi hành chính sách ngoại giao đối Hoa, chính phủ Mỹ rõ ràng coi nhân quyền và dân chủ là đồ trang trí, không thể sánh với sự quan tâm của nó đối với lợi ích kinh tế.
Mỹ – Trung có đối thoại kinh tế và chiến lược cấp cao mỗi năm hai lần, cấp bậc quan chức tham dự đều là thành viên nội các cấp bộ trưởng; còn hội đàm nhân quyền Mỹ – Trung hai năm mới một lần, quan chức dẫn đoàn chỉ là trợ lý ngoại trưởng chủ quản nhân quyền.
Tháng 2 năm 2009, Ngoại trưởng Hillary Clinton khi thăm châu Á đã nói: “Áp lực Mỹ gây về sự vụ nhân quyền không được quấy nhiễu thảo luận các nghị đề then chốt khác.”
Trước Olympic Bắc Kinh 2008, tuy Tổng thống Bush tại Nhà Trắng có tiếp kiến vài nhân sĩ bất đồng chính kiến dân chủ mang tính tượng trưng, nhưng so với việc đích thân ông chạy đến Bắc Kinh xem Olympic thì bên nào nặng bên nào nhẹ nhìn là rõ.
Những cách làm và cách nói này đều đang phát cho Trung Cộng một tín hiệu rõ ràng không lẫn: Mỹ kỳ thực không coi trọng vấn đề nhân quyền Trung Quốc. Với Trung Cộng, điều này chẳng khác gì bật đèn xanh lớn cho bức hại nhân quyền. Trong cộng đồng quốc tế, kẻ thực sự chế ước nổi Trung Cộng chỉ có Mỹ; nếu Mỹ buông, thì không một quốc gia nào trị nổi Trung Cộng nữa.
Chưa hết, Trung Cộng còn quay lại nói tình trạng nhân quyền của mình tốt thế nào, của Mỹ tệ ra sao. Từ năm 1999, mỗi năm, đúng ngày hôm sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo nhân quyền thường niên, Trung Cộng lại châm đối mạch nhọn công bố báo cáo nhân quyền nước Mỹ, chuyển vấn đề nhân quyền sang thế công. Kỳ thực đây là kết quả của sự ám thị và dung túng của Mỹ.
Năm điều trên đều là chỗ thất bại của chính phủ Mỹ trong chính sách đối Hoa. Truy nguyên nhân căn bản, vẫn là sự hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức: giữa “nghĩa” và “lợi”, trọng lợi mà khinh nghĩa, quên mất gốc lập quốc của chính mình.
Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/7/20/n3640063.htm
Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.
Từ khi cuốn sách