Một quyển sách
đã truyền cảm hứng cho hơn 350 triệu người
thoái xuất khỏi Đảng Cộng Sản Trung Quốc

Chương 9: Tham chiến (phần 1)

“Tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đem tôi vào đồng vắng, thấy một người đàn bà cưỡi trên con thú màu đỏ tía; con thú đầy những danh hiệu phạm thượng, có bảy đầu mười sừng.”

“Người đàn bà ấy mặc y phục màu tím và đỏ tía, trang sức bằng vàng, đá quý và trân châu; tay cầm chén vàng, đựng đầy những vật gớm ghiếc và sự ô uế dâm loạn của mình.”

“Vì mọi nước đều đã uống rượu dâm loạn cuồng nộ của nó mà say; các vua trên đất đã hành dâm cùng nó, các thương nhân trên thế gian nhờ sự xa hoa vung phí của nó mà phát tài.”

“Tôi lại thấy người đàn bà ấy say máu của các con dân của Thần — máu của những người tuẫn đạo.”

—— “Khải Huyền”, Kinh Thánh

Phần thứ nhất: Cuộc chiến mà không ai ý thức được: Tham chiến

Sự đảo ngược kinh người của thực lực quốc tế

Những gì Giang Trạch Dân thi hành trong hơn hai năm đầu cầm quyền hoàn toàn là lối tư duy “chống diễn biến hòa bình” trong hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản. Thế nhưng, đến Giáng sinh năm 1991, Liên Xô cũ chính thức tuyên bố giải thể; cuộc quấn đấu giữa hai đại tập đoàn thế giới cùng hai hệ tư tưởng, kéo theo cuộc đấu tranh gần trăm năm giữa thế giới tự do và tập đoàn chuyên chế cộng sản, cuối cùng đã phân định thắng bại. Thế giới tự do phương Tây đại diện cho các giá trị phổ quát của nhân loại như tự do, nhân quyền, dân chủ và kinh tế tự do giành được không chỉ là thắng lợi về quân sự, chính trị trong cuộc đối đầu hai đại trận doanh lớn nhất từ khi nhân loại có lịch sử, mà còn là đại thắng toàn phương vị về kinh tế, hệ tư tưởng, đạo nghĩa, v.v. Có thể nói thời kỳ cực thịnh của thế giới tự do chính là lúc này, hơn nữa còn mang khí thế toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Đối lập với đó, Trung Cộng vốn đã mất tính chính danh cầm quyền vì cuộc thảm sát “Lục Tứ” (4/6), lúc này lại mất luôn tính chính danh về hệ tư tưởng. Chưa đầy một tháng sau khi Liên Xô chính thức tuyên bố giải thể, Đặng Tiểu Bình liền triển khai canh bạc cuối cùng trong sinh nhai chính trị của mình, chuyến Nam tuần chính là biểu hiện của việc Trung Cộng cùng nhân vật đại diện của nó mưu toan tự cứu; đồng thời, tâm thái mạt thế biểu hiện phổ biến ở các quan chức Trung Cộng, từ một góc độ khác, phản ánh cú sốc tâm lý trước sự tan rã cuối cùng của tập đoàn chuyên chế cộng sản.

Như đã thuật ở trước, Giang Trạch Dân, với tư cách người cầm quyền thực tế của Trung Cộng chẳng những không như Đặng Tiểu Bình mưu toan để Trung Cộng tự cứu, ngược lại còn thông qua chế độ mang tính hủ bại để kiến lập quyền lực cá nhân, mưu cầu lợi ích khổng lồ cho gia tộc và tập đoàn thế lực của mình, lại tàn hại trung lương, cắt đứt triệt để mọi cơ hội tự cứu của Trung Cộng, và đưa cả xã hội Trung Quốc vào vực thẳm nguy hiểm của sự sụp đổ đạo đức vạn kiếp bất phục.

Đặng Tiểu Bình, hay Giang Trạch Dân, hay đủ hạng nhân vật trong nội bộ Trung Cộng, kẻ thì vì tự cứu, kẻ thì vì tư lợi, tuy hành vi khác nhau, nhưng cách họ giải đọc cơn biến động lớn của thế giới cuối năm 1991 lại nhất trí: đó là Trung Cộng dù với tư cách tập đoàn cầm quyền, hay hệ tư tưởng mà nó đại diện trên toàn cầu đều ở thế tuyệt đối yếu kém và cô lập. Bấy giờ, các nhà quan sát quốc tế từng có đủ loại suy đoán về Trung Cộng; nhưng cũng như không ai dự đoán được trận doanh chủ nghĩa cộng sản sụp đổ chỉ sau một đêm, tuyệt đối cũng không ai dự đoán được sự đảo ngược kinh người trong thế đối đầu thực lực giữa thế giới tự do và Trung Cộng trên vũ đài quốc tế hai mươi năm sau.

Lịch sử huyền bí đang làm sự an bài như thế nào? Thông qua những sự kiện mà con người không thể tưởng tượng này, nó muốn chỉ rõ cho nhân loại đạo lý gì? Trong cơn thiên biến vạn hóa đại khởi đại lạc, lật tay thành mây úp tay thành mưa ấy, chỉ để sót lại cái Trung Cộng không lớn không nhỏ, không chết không sống này đang khảo nghiệm nhân loại điều gì?

Sự xâm thực của Giang Trạch Dân đối với giá trị căn bản của nhân loại vượt quá Hitler và Stalin

Hai mươi năm tiếp theo tức hơn hai mươi năm Giang Trạch Dân cùng bang phái của ông ta ảnh hưởng chính trường Trung Quốc lại chính là hai mươi năm ảnh hưởng quốc tế của Trung Cộng tăng vọt. Ảnh hưởng này trên toàn cầu đã dấy lên nỗi lo ngại toàn phương vị; tiếng nói kêu gọi chính quyền Trung Cộng trở thành một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế chính là sự thể hiện khái quát của nỗi lo ngại ấy. Điều càng đáng lo là: cho đến nay, trong thế giới tự do lại vẫn chưa có ai đi sâu thăm dò hiện tượng lịch sử thế này, kẻ đại diện cho thế lực tàn dư của một tập đoàn cộng sản đã suy tàn, làm cách nào khiến thế giới tự do, vốn ngay cả khi đối mặt với sự uy hiếp của những tập đoàn quân sự hùng mạnh như Hitler, Stalin cũng không hề lép vế, chỉ trong vỏn vẹn hai mươi năm sa sút từ thời kỳ cực thịnh xuống cảnh phải liên tục thỏa hiệp nhượng bộ trước Trung Cộng. Một đoạn đảo ngược kinh người của thế đối đầu thực lực như thế, đặt vào bất kỳ thời kỳ lịch sử nào cũng sẽ là chấn động lòng người; vậy mà trong thế giới hiện thực, nó chẳng những không được nhận thức, ngược lại cái gọi là “trỗi dậy” của Trung Cộng trong thế giới tự do lại được người ta ganh tị, thậm chí muốn mô phỏng. Sự xâm thực của Giang Trạch Dân và Trung Cộng đối với giá trị căn bản của thế giới tự do đã vượt xa mức độ mà Hitler và Stalin không dám tưởng tượng.

Kỳ thực, hành vi của Giang Trạch Dân trên trường quốc tế với hành vi của ông ta ở Trung Quốc không khác chút nào: đó là lợi dụng lòng tham của con người. Từ các chương trước, chúng ta thấy: thủ pháp Giang Trạch Dân dùng ở Trung Quốc là buông tay cho hủ bại, dùng quyền và lợi để mua chuộc quan chức Trung Cộng. Trên trường quốc tế, thủ pháp Giang Trạch Dân dùng là lấy quyền lợi mua chuộc sự thỏa hiệp nhân nhượng của cộng đồng quốc tế đối với mình. Chính sách quốc tế của Trung Cộng đơn giản đến mức trần trụi: anh mà phê bình nhân quyền hay các chính sách khác của tôi, tôi liền đi làm ăn với kẻ khác.

Thế nhưng, điều này đã tạo ra một thứ “khiếp sợ”, nỗi khiếp sợ phổ biến trong thế giới tự do: sợ để mất cơ hội kiếm tiền vào tay kẻ khác. Trung Cộng còn xa mới có thực lực quân sự như Hitler, Stalin; có điều, thứ khiếp sợ mà Trung Cộng tạo ra bằng cách lợi dụng lòng tham của con người lại khó chống đỡ hơn nhiều so với nỗi khiếp sợ do xe tăng của Hitler và vũ khí hạt nhân của Stalin gây nên. Để không bỏ lỡ những món lợi mà Trung Cộng nhả ra về lợi ích kinh tế, thế giới tự do liền nhượng lợi cho Trung Cộng về lợi ích chính trị, từ bỏ quan niệm giá trị của chính mình. Đây chính là bản chất cốt lõi nhất trong cách thế giới tự do giao thiệp với Trung Cộng suốt hai mươi năm qua; đây chính là nguyên nhân căn bản của sự đảo ngược kinh người trong thế đối đầu hai bên. Đây là một kiểu chính trị quốc tế chưa từng có trong lịch sử nhân loại; bản thân sự xuất hiện của nó chính là biểu hiện của khuyết thiếu đạo đức. Thế giới tự do phương Tây đến nay vẫn tưởng rằng vấn đề kinh tế dẫn đến đà trượt dốc của mình, mà chưa nhận thức được rằng: giá trị bị xâm thực mới là nguyên nhân căn bản.

Tham chiến bắt đầu trong bất tri bất giác

Chính sách ngoại giao của Trung Cộng lấy việc nhượng lợi ích kinh tế làm thực chất thực sự bắt đầu từ sau vụ “Lục Tứ”, khi Trung Cộng mất tính chính danh cầm quyền, cực kỳ cô lập trên trường quốc tế. Để đổi lấy chút thừa nhận đáng thương trên trường quốc tế, Trung Cộng có thể ban phát lợi ích cực lớn. Tình hình lúc bấy giờ là: cho dù Trung Cộng có thể trần trụi nhả lợi, thế giới tự do vừa mới giành thắng lợi đạo nghĩa toàn cầu, trước cám dỗ ấy, trong mấy năm đầu vẫn còn áp lực đạo nghĩa nên khinh miệt mà tránh xa. Việc Tổng thống Bush cha phái Brent Scowcroft bí mật thăm Trung Quốc sau “Lục Tứ” từng dấy lên sóng gió lớn. Đối mặt với sự nhả lợi của Trung Cộng, mấy năm đầu phương Tây cũng còn chần chừ không tiến. Vì vậy, những kẻ nhận được ưu đãi của Trung Cộng trong mấy năm đầu sau Lục Tứ chủ yếu vẫn là các nhà đầu tư vừa và nhỏ gốc Hoa, đặc biệt là thương nhân Đài Loan.

Thế nhưng, sự cám dỗ từ lợi ích của Trung Cộng cuối cùng đã gặm nhấm, chiến thắng sự kiên thủ đạo nghĩa của thế giới tự do. Vì thể diện đạo nghĩa bề ngoài, thế giới tự do hai mươi năm qua đã lần lượt bịa ra nhiều lý do khác nhau để chấp nhận sự nhả lợi của Trung Cộng, đại loại như: giúp Trung Quốc phát triển kinh tế thị trường, kinh tế phát triển rồi sẽ có giai cấp trung lưu, người ta sẽ đòi hỏi quyền lợi, sẽ dẫn đến dân chủ; giúp các công ty Trung Quốc hội nhập quốc tế; giúp Trung Quốc kiến lập pháp chế, v.v. Lịch sử hai mươi năm chứng minh: những lý do này không một điều nào là thật; chỉ có việc nhận lấy sự nhượng lợi kinh tế của Trung Cộng rồi nhượng lợi chính trị lại cho Trung Cộng là hai mươi năm như một ngày, đến nỗi khi Ngoại trưởng Clinton thăm Trung Quốc hơn ba năm trước, bà ta lại công khai tuyên bố: vấn đề nhân quyền không nên cản trở sự hợp tác giữa Mỹ và Trung Cộng trong những vấn đề “quan trọng hơn”.

Đến đây, trên vũ đài chính trị của xã hội thế giới đã không còn thứ gì quan trọng hơn kinh tế nữa. Thế giới ngày nay, có chính khách tranh cử nào dám không đặt vấn đề kinh tế lên hàng đầu? Còn giá trị phổ quát nào có thể thay đổi hiện trạng này? Còn tinh thần nào của nhân loại có thể hấp dẫn cử tri hơn việc làm tốt kinh tế? Khi nỗi khiếp sợ chỉ e không làm ăn được với Trung Cộng đã thấm vào cao hoang (bệnh vào chỗ hiểm, hết thuốc chữa), thế giới tự do liệu còn tự do nữa không? Khi kinh tế, kiếm tiền đã trở thành trung tâm áp đảo tất cả trong hoạt động của nhân loại, lịch sử nhân loại phải chăng đã sắp đi đến hồi kết? Nếu không phải vậy, thì nhân loại sẽ dựa vào tinh thần gì để tiếp nối hay khai sáng lịch sử mới?

Phần thứ hai: Truyền máu kinh tế

Trung Cộng và các đại tài đoàn nước ngoài lợi dụng lẫn nhau

“Cải cách mở cửa” của Trung Cộng, cải cách cái gì thì người đời xưa nay chẳng ai rõ; chỉ biết rằng về chính trị, về pháp chế, về chính sách kinh tế, về tình trạng nhân quyền. Tóm lại là mọi mặt của xã hội, vấn đề quá nhiều, những thứ cần cải cách quá nhiều, tích tụ nặng nề khó quay đầu. Hơn nữa ngày nay người đời đều đã hiểu: hy vọng chính quyền Trung Cộng thông qua cái nó tự xưng là “cải cách mở cửa” mà đi tới xã hội theo nghĩa thông thường của kinh tế thị trường tự do phương Tây và tiêu chuẩn nhân quyền, chẳng khác nào nằm mơ giữa ban ngày. Nhưng cái “mở cửa” của Trung Cộng thì lại rất rõ ràng: đó là há to cái miệng chậu máu, trăm phương nghìn kế thu hút vốn nước ngoài đổ vào, dùng vốn liếng và kỹ thuật tích lũy mấy trăm năm của chủ nghĩa tư bản phương Tây để vỗ béo cao tốc thế lực của chủ nghĩa xã hội Trung Cộng.

“Cải cách mở cửa” của Trung Cộng luôn là dùng phát triển kinh tế để che đậy và giúp vượt qua những khủng hoảng chính trị liên miên. Sau vụ “Lục Tứ” năm 1989, Trung Cộng đối mặt với chế tài quốc tế; thế nhưng chẳng bao lâu, quan hệ kinh tế giữa phương Tây với Trung Quốc đã bắt đầu khôi phục. Đặc biệt sau bài nói chuyện Nam tuần năm 92 của Đặng Tiểu Bình, lại dấy lên thêm một làn sóng đầu tư của thương nhân nước ngoài. Trong mấy năm đầu thập niên 90, Mỹ, với tư cách thị trường xuất khẩu và đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc.  Quốc hội còn phải mỗi năm họp chuyên đề, thảo luận có tiếp tục phê chuẩn quy chế tối huệ quốc dành cho Trung Quốc năm đó hay không; như vậy ít nhất còn khiến Trung Cộng cảm thấy chút áp lực về vấn đề nhân quyền. Trung Cộng thông qua các công ty xuyên quốc gia đầu tư tại Trung Quốc ra sức vận động giới chính trị Mỹ, khiến quy chế tối huệ quốc và vấn đề nhân quyền bị tách rời ngay trong nhiệm kỳ chính quyền Clinton, thời kỳ nhân quyền Trung Quốc tồi tệ nhất. Khi Giang Trạch Dân năm 1999 dốc sức cả nước bức hại Pháp Luân Công, cộng đồng quốc tế về cơ bản đã không phát ra nổi tiếng nói thực chất nào, càng không áp dụng được hành động gì, bởi quan hệ trói buộc lợi ích kinh tế với Trung Cộng đã chủ đạo chính sách đối Hoa của phương Tây.

Pháo đài cuối cùng của thế giới không đánh mà tự sụp: cùng với sự mềm yếu của chính sách đối Hoa của Mỹ, cả cộng đồng quốc tế đã không còn bất kỳ năng lực nào để đưa ra chất vấn mang tính chế tài quốc tế đối với nhân quyền Trung Quốc. Trung Quốc năm 2001 được phê chuẩn gia nhập WTO, đầu tư hải ngoại vào Trung Quốc tăng rõ rệt. Sự truyền máu kinh tế từ bên ngoài đã giúp Trung Cộng chế tạo ra một sự phồn vinh kinh tế hám lợi trước mắt, bất chấp giá thành. Sự “phồn vinh” này vừa cho Trung Cộng tài lực để bức hại nhân quyền, vừa cho Trung Cộng cái cớ để lấp liếm với bên ngoài, lừa mị dân chúng của chính mình. Thế là sự cướp đoạt và lãng phí tài nguyên quốc gia, sự bức hại nhân quyền của Trung Cộng càng trở nên mặc sức không kiêng dè.

Dưới đây là số liệu đầu tư vốn nước ngoài của Bộ Thương mại Trung Quốc, có thể thấy tình hình vốn ngoại truyền máu kinh tế cho nước Trung Cộng: từ tổng vốn ngoại thực tế sử dụng lũy kế mười năm 1979–1989 chưa đến 60 tỷ, đến năm 2010, tổng lũy kế đã cao tới hơn 1.250 tỷ. Quy mô dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng năm của Trung Quốc đứng hàng đầu thế giới, đã liên tục nhiều năm giữ vị trí số một trong các nước đang phát triển.

Nguồn tư liệu: trang chính thức Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, trang chính thức Bộ Thương mại Trung Quốc, “Niên giám Thống kê Trung Quốc” các kỳ qua các năm.

*Từ năm 2001, do điều chỉnh phạm vi thống kê, Trung Quốc không còn công bố số liệu vay nước ngoài, chuyển sang dùng phạm vi thống kê nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn quốc tế, do Cục Quản lý Ngoại hối Quốc gia công bố riêng.

Nguồn tư liệu: “Số liệu quốc biệt” của chính phủ Trung Quốc (countryreport.mofcom.gov.cn)

Những nhân tố phi bình thường của tăng trưởng kinh tế

Trung Quốc lẽ ra đã giàu từ lâu, nếu không có Đảng Cộng sản. Trung Quốc từng giàu có, trước khi có Đảng Cộng sản. Người Trung Quốc bằng sự cần lao dũng cảm của mình mà làm giàu, bằng trí tuệ và năng lực của mình mà phát triển tài phú của quốc gia và cá nhân. Mấy nghìn năm lịch sử đã đi qua như thế. Gần sáu mươi năm qua bị Trung Cộng cắt đứt mạch duyên lịch sử, trôi dạt khỏi quỹ đạo bình thường của thế giới, người Trung Quốc trở nên nghèo hơn, khổ hơn. Đây là tai họa do Trung Cộng gây ra.

Nhà kinh tế học Dương Tiểu Khải từng nói câu thế này: “Có nhà kinh tế học nói Mỹ là thị trường lớn thực sự đầu tiên của thế giới, nó mở cửa cho ai, nước ấy liền giàu.”

Lượng vốn khổng lồ mà các tập đoàn đại tư bản xuyên quốc gia trong toàn cầu hóa kinh tế cố ý mang đến cho chính quyền Trung Cộng đã chống đỡ tính chính danh lung lay sắp đổ của Trung Cộng. Kỹ thuật tiên tiến tích lũy mấy trăm năm của phương Tây cùng cơ hội gia công chế tạo được cung cấp cho Trung Cộng, trước hết đã giúp chính quyền Trung Cộng giành được thời cơ “hoa quỳnh thoáng nở”, đây là kết quả trực tiếp của “truyền máu kinh tế”. Lực lượng lao động rẻ mạt khổng lồ bị Trung Cộng vắt cho nghèo đến phát sợ, điều kiện khổ mấy mệt mấy cũng chịu làm, mà lại làm việc lâu dài, ổn định (riêng dân công đã hơn 200 triệu), với các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt cần đội ngũ công nhân kỹ thuật ổn định mà nói, vô cùng hấp dẫn. “Ưu thế nhân quyền thấp” của Trung Quốc, không có công đoàn, nông hội độc lập khiến tài nguyên, môi trường có thể bị khai thác quá mức và gây ô nhiễm không chịu bất kỳ ràng buộc nào. Cộng thêm một môi trường quốc tế tương đối hòa bình do các nước phát triển, nhất là Mỹ, duy trì, v.v. đủ loại nhân duyên hội tụ lại một chỗ, tạo nên sự biến đổi của kinh tế Trung Quốc.

Mấy nhân tố này lại nương tựa lẫn nhau. Trung Cộng đặt cược tính chính danh cầm quyền vào phát triển kinh tế, cần vốn và truyền máu kinh tế của phương Tây; để thu hút vốn ngoại, Trung Cộng nhân tạo chế ra “ưu thế nhân quyền thấp” cực độ, giúp thương nhân nước ngoài tránh được gánh nặng “công đoàn dọa chạy nhà đầu tư, nông hội đuổi khách khoanh đất”. Nhiều thương nhân nước ngoài, vì muốn lợi dụng lao động rẻ mạt của Trung Quốc và chia phần miếng bánh thị trường Trung Quốc tương lai trong tưởng tượng của họ, đã không tiếc sức vận động chính phủ nước mình đừng can thiệp vào sự bức hại nhân quyền của Trung Cộng, tách đầu tư khỏi nhân quyền, rao bán những lý do tựa đúng mà sai như “Trung Quốc đang tiến bước trên con đường cải lương tiếp cận dân chủ phương Tây”, “phát triển kinh tế sẽ thúc đẩy cải cách chính trị của Trung Quốc”, “Internet phổ cập sẽ mang đến tự do báo chí cho Trung Quốc”. Có thể nói, Trung Cộng cùng rất nhiều thương nhân nước ngoài, vì tối đa hóa lợi ích tự thân, đã hy sinh phúc lợi lâu dài của nhân dân Trung Quốc, tạo nên hiện trạng Trung Quốc ngày nay. Đồng thời cũng hy sinh lợi ích của nhân dân nước họ, tổn thương quốc bản của họ, gây nên tình trạng trì trệ ảm đạm của kinh tế bản địa.

Nếu năm xưa các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia dùng cùng phương pháp ấy đối đãi với Liên Xô cũ và trận doanh xã hội chủ nghĩa Đông Âu, thì cục diện thế giới hôm nay sẽ là một tình cảnh hoàn toàn khác. Vì vậy, kỳ tích kinh tế của Trung Cộng chẳng phải kỳ tích gì cả, chỉ là các tập đoàn xuyên quốc gia di chuyển tài nguyên thế giới, chất đống tại nơi này lúc này thành một kẻ phất lên tạm thời mà thôi. Bất cứ lúc nào, khi lợi ích và tài nguyên có thể vắt ra tại điểm thời gian và địa điểm ấy không còn thỏa mãn nổi cái dạ dày khổng lồ của các tập đoàn xuyên quốc gia, thì đó chính là lúc các tập đoàn xuyên quốc gia từ bỏ và vứt bỏ Trung Cộng, bất chấp lợi ích lâu dài của nhân dân Trung Quốc mà làm hại Trung Quốc, và làm hại lợi ích của các công ty nhỏ nước ngoài khác chạy theo phong trào.

Chính vì truyền máu kinh tế là sự vận hành mang tính chất như thế, tài đoàn nước ngoài không chịu trách nhiệm về bất kỳ tổn thất nào của nhân dân Trung Quốc; chính quyền Trung Cộng không cần thực sự gánh trách nhiệm về việc sử dụng nguồn tài chính, cho nên Trung Quốc uổng có khoản tài phú to lớn nhường ấy suốt bao năm mà đảng giàu dân nghèo, đảng tiến dân lùi; có tiền kiếm được rồi, chỉ số đời sống vẫn xếp cuối thế giới; giàu nghèo phân hóa, dân sinh không được bảo đảm; khủng hoảng bất tín nhiệm đối với Trung Cộng nằm trong lòng dân, nội nhu đương nhiên không kéo lên nổi; những nhân tố phát triển kinh tế bình thường đã bị sự bại hoại hủ hóa trong đạo đức cầm quyền của Trung Cộng phá hỏng. Ngược lại, quan chức đạo đức càng hủ bại càng phát tài: tài nguyên quốc tế biến thành tư bản đảng-quốc, rồi biến thành tài phú tư nhân, thậm chí cuối cùng chuyển sang đứng tên tài khoản cá nhân ở hải ngoại. Vòng tuần hoàn vốn ác tính xoay chuyển dị thường trên chuỗi vốn như thế.

Truyền máu kinh tế giúp Trung Cộng đạt được tăng trưởng về con số kinh tế, nhưng kinh tế Trung Quốc thể hiện ra là sự phát triển dị dạng: bởi chế độ chính trị không đề xướng cạnh tranh tự do, chế độ pháp luật không bảo hộ giao dịch công bằng, phân phối bất công, giàu nghèo phân hóa, dẫn đến nội nhu thiếu hụt nghiêm trọng,  hoàn toàn không để phương Tây được chia sẻ rộng rãi cái thị trường khổng lồ tiềm tàng của Trung Quốc. Ngược lại, các công ty phương Tây chuyển ngành chế tạo sang Trung Quốc; sản phẩm giá rẻ mà Trung Quốc dựa vào ưu thế nhân quyền thấp chế tạo ra lại xung kích cả thế giới, gây thất nghiệp hàng loạt ở các nước khác; hơn nữa các nước phát triển phương Tây, đặc biệt là Mỹ, đang đối mặt khủng hoảng rỗng ruột ngành chế tạo, đứt gãy chuỗi sản nghiệp. Quốc gia mất đi năng lực chế tạo đang dần dần mất luôn năng lực sáng tạo, tổn thương quốc bản, đây mới là hậu quả thực sự đáng sợ.

Chiêu thương dẫn vốn đến đỏ cả mắt

Trung Cộng cần sự truyền máu kinh tế của nước ngoài. Sự lệ thuộc của Trung Cộng vào truyền máu kinh tế hải ngoại có thể thấy phần nào qua mức độ nóng bỏng của “chiêu thương dẫn vốn” (mời gọi đầu tư), đặc biệt qua những khẩu hiệu gây sốc thường bị báo chí phê phán: “Ai phá hoại chiêu thương dẫn vốn, kẻ đó là tội nhân của lịch sử”, “Nhà đầu tư là Thượng Đế, người dẫn vốn là công thần”, “Làm tổn hại lợi ích doanh nghiệp là tội nhân”, “Ai gây chuyện, kẻ đó phá hoại chiêu thương dẫn vốn, chuyên chính hầu tiếp!”, “Ai gây khó dễ cho doanh nghiệp chiêu thương dẫn vốn là gây khó dễ với nhân dân”. Thành phố Trường Trị, Sơn Tây, để tối ưu hóa môi trường mời gọi đầu tư, đã ban hành một số quy định mới, như: “Phàm xe cộ ngoại tỉnh vào thành phố Trường Trị mà vi phạm luật giao thông, chỉ nhắc lỗi, không phạt tiền”; khách thương ngoại tỉnh đến Trường Trị đầu tư, nếu do các nhân tố như môi trường nhân văn, môi trường chính sách, môi trường pháp luật địa phương mà thua lỗ, nhất loạt do chính quyền địa phương bồi thường trọn gói.【1】【2】

Lãnh đạo cấp cao CLUB MED (khu nghỉ dưỡng nổi tiếng thế giới) đi khảo sát đảo Mi Châu, Bắc Hải, Quảng Tây: con trai nhà sáng lập CLUB MED chân trần, mặc quần đùi, đội nắng gắt sải bước trên bãi cát; quan chức chính quyền địa phương che ô lẽo đẽo theo sau. Các quan chức rất mong khu nghỉ dưỡng nổi tiếng thế giới này chọn trúng địa phương mình. Đám khách Tây xem hết cả đảo, đưa ra mười điều góp ý, trong đó có nhắc đến một ngôi làng trên đảo. Các quan chức không cần suy nghĩ đáp luôn: “Không thành vấn đề, chúng tôi cho làng này dọn nhà, dọn đi hết.” Khách Tây kinh ngạc há hốc mồm: “Ông nói gì cơ? Các ông mà dọn làng đi, chúng tôi sẽ không đến nữa!”【2】

Cuối năm 2006, tờ “Công Thương Thời báo” Đài Loan đăng bài “Sang Trung Quốc đầu tư là có đãi ngộ siêu quốc dân”, đưa tin: vùng duyên hải nhờ hấp thu lượng lớn đầu tư từ bên ngoài, kéo theo phát triển khu vực, khiến một số vùng khác đỏ mắt ganh tị. Thành phố Thấm Dương nằm ở tây bắc Hà Nam, thuộc quyền quản hạt của thành phố Tiêu Tác, mấy năm gần đây liên tiếp ban ba văn kiện “dấu đỏ”, quy định: chỉ cần đăng ký hợp pháp, đầu tư từ 50 triệu nhân dân tệ (dưới đây cũng vậy) trở lên, hoặc nộp thuế hàng năm từ 5 triệu trở lên, nhà đầu tư liền được hưởng “đãi ngộ siêu quốc dân”: “vào hộp đêm miễn kiểm tra phòng, lái xe vi phạm không phạt tiền”, kèm cấp giấy chứng nhận công dân danh dự.

Chỉ cần được chính quyền Thấm Dương trao “giấy chứng nhận công dân danh dự”, hoặc nhà đầu tư, người phụ trách doanh nghiệp cầm “giấy thông hành đặc biệt”, là được chuyên hưởng mười hai hạng đãi ngộ miễn trừ pháp luật đặc thù. Mười hai đãi ngộ ưu tiên này bao gồm: người cầm giấy khi tiêu dùng ở khách sạn, nhà hàng và cơ sở giải trí, xuất trình “giấy chứng nhận công dân danh dự” xong là không phải chịu kiểm tra của cơ quan công an; trừ dính đến án hình sự, các ban ngành chấp pháp không được kiểm tra thân thể, xe cộ, chỗ trọ của người cầm giấy; xe của người cầm giấy treo “giấy thông hành xe khách thương ngoại tỉnh”, trừ tai nạn giao thông đặc biệt lớn, không giữ giấy tờ không phạt tiền; con cái nhập học tự do chọn trường, khám bệnh viện phí nửa giá, khu danh thắng miễn vé vào cửa, vợ hoặc chồng được miễn phí xem các hoạt động văn nghệ thể thao lớn do địa phương tổ chức, v.v.【3】

Trước năm 2008, về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, Trung Quốc đã dành cho doanh nghiệp vốn ngoại ưu đãi rất lớn: thuế suất thu nhập của doanh nghiệp vốn ngoại là 15%, trong khi doanh nghiệp vốn nội là 33%. Ngoài chênh lệch thuế suất, chính quyền địa phương các cấp để thúc đẩy chiêu thương dẫn vốn, tạo thành tích chính trị, thường dành cho doanh nghiệp vốn ngoại khá nhiều chính sách ưu đãi, khấu trừ về thuế, phí, cùng đủ kiểu nghiêng lệch về đất đai, tín dụng. Chính sách ưu đãi đặt ra cái sau “nóng” hơn cái trước, có nơi thậm chí đến mức “bỏ cả vốn liếng”, tung ra chính sách ưu đãi miễn phí sử dụng đất. Về giảm miễn thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp vốn ngoại được thực hiện chính sách giảm miễn như “hai miễn ba giảm nửa” (chính sách “hai miễn ba giảm nửa” nghĩa là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được hưởng đãi ngộ: kể từ năm bắt đầu có lãi, 2 năm miễn thu, 3 năm thu nửa thuế thu nhập doanh nghiệp), “năm miễn năm giảm nửa” — tức 5 năm đầu miễn thuế thu nhập, 5 năm tiếp theo thu nửa.

Công ty xuyên quốc gia đi đâu cũng là “bánh thơm”; sự cạnh tranh giữa chính quyền các nơi tự nhiên rất khốc liệt. Con bài tiện nhất, lợi nhất trong tay chính quyền địa phương chính là nhượng đất với giá cực rẻ, thậm chí biếu không. Có một câu chuyện: một công ty xuyên quốc gia nọ định đến một thành phố nội địa đầu tư, đưa ra với địa phương những điều kiện kèm theo cực kỳ hà khắc, cái giá ấy là chính quyền địa phương phải đem cầm cố hạnh phúc của mấy đời con cháu. Thế nhưng chính quyền vẫn nhận lời; chỉ có cửa ải chính sách đất đai của nhà nước là nghĩ cách nào cũng không lọt qua nổi, vì những năm gần đây chính phủ đã đặt ra giá chỉ đạo tối thiểu khi nhượng đất. Làm sao vừa mời được phượng hoàng vàng về, vừa né được rủi ro? Chiêu mà các chính quyền nghĩ ra là “giấu trời qua biển”: sửa ngày ký hợp đồng lùi về hai năm trước khi chính sách giá chỉ đạo nhượng đất ra đời.

Ấn Độ tuy những năm gần đây xây không ít đặc khu kinh tế để thu hút vốn ngoại, nhưng còn xa mới đến mức cho vốn ngoại “đãi ngộ siêu quốc dân”; từ cảnh ngộ khác nhau của gã khổng lồ bán lẻ thế giới Carrefour có thể thấy sự khác biệt giữa Trung Quốc và Ấn Độ trong cách đối đãi vốn ngoại. Bao năm qua, Carrefour luôn tìm cách vào thị trường Ấn Độ nhưng đến nay chưa thành công, vì Ấn Độ vẫn chưa mở cửa lĩnh vực bán lẻ cho vốn ngoại. Còn ở Trung Quốc, Carrefour vào thị trường từ năm 1995 và nhanh chóng mở khắp Nam Bắc. Tuy nhiều lần bị tình nghi mở cửa hàng trái quy định, vẫn rất được nhiều chính quyền địa phương hoan nghênh. Reuters gần đây dẫn lời một chuyên gia Trung Quốc đưa tin: Carrefour mở đến đâu, doanh nghiệp lưu thông tư nhân nơi đó đổ rạp cả loạt; nhưng điều này chẳng mảy may ảnh hưởng sự ưu ái của chính quyền địa phương, kỳ thực khiến doanh nghiệp tư nhân bản địa chịu cạnh tranh bất công.

Với quan chức chính quyền, GDP chính là thành tích chính trị, chính là vốn liếng thăng tiến; chiêu thương dẫn vốn là dễ ra thành tích nhất, hơn nữa để thu hút vốn ngoại thì tài nguyên vô hình có thể đem trao đổi rất nhiều. Còn như hy sinh bao nhiêu lợi ích quốc gia, hủy hoại bao nhiêu môi trường, đó là món nợ phải bao nhiêu năm sau mới tính rõ được, hiện tại chẳng ai phải chịu trách nhiệm.

Cơn “sốt Trung Quốc” phát điên

Thị trường khổng lồ tiềm tàng của 1,3 tỷ người Trung Quốc có sức cám dỗ không thể cưỡng lại đối với các thương nhân phương Tây đeo “cặp kính $$”. “Sốt Trung Quốc” ngày càng tăng nhiệt. Chủ tịch IBM bắt đầu mơ tưởng “cứ mỗi 100 người, hoặc mỗi 1.000 người, thậm chí mỗi 10.000 người Trung Quốc sở hữu một máy tính IBM”; Coca-Cola thì tính toán: chỉ cần mỗi người Trung Quốc mua một chai Coca, chỉ sau một đêm Coca-Cola sẽ phát tài to.

Gã khổng lồ truyền thông mạng Cisco coi kế hoạch kiểm duyệt Internet nghiêm ngặt của chính quyền Trung Quốc là cơ hội kinh doanh tuyệt hảo của mình: công nghệ cao của Cisco vừa khéo giúp Trung Cộng kiến lập hệ thống mạng khống chế toàn dân mà ngay tại Mỹ cũng không thể thi hành, giúp công ty có thể làm thêm, làm lớn việc kinh doanh với chính quyền chuyên chế này. Một văn kiện nội bộ của Cisco bị rò rỉ viết: “Trường thành mạng” của Trung Quốc là cơ hội kinh doanh tuyệt vời để bán bộ định tuyến. Văn kiện chín mươi trang này là báo cáo nội bộ do nhân viên kỹ thuật Cisco cùng những người liên quan phía Trung Quốc nghiên cứu kỹ lưỡng soạn ra, hỗ trợ chính quyền Trung Cộng nâng cấp kiến trúc mạng an ninh công cộng cấp địa phương, cấp tỉnh và cấp quốc gia. Văn kiện này trong hồ sơ được xếp vào mục “Cơ hội của Cisco”; văn kiện cung cấp một số kiến nghị, bao gồm cách cung cấp dịch vụ cho hệ thống kiểm duyệt của Trung Quốc, tức cái gọi là “Công trình Kim Thuẫn”, chính là hệ thống phong tỏa mạng chủ bài phiên bản quốc gia của Trung Cộng mà phương Tây quen gọi (Great Firewall).【4】Thành quả kỹ thuật tiên tiến của Cisco đã nâng cao, đẩy sớm hệ thống khống chế của Trung Cộng lên mấy chục năm, trở thành thể chế công cụ áp bức tiên tiến nhất thế giới. Sự giám sát cường độ cao suốt ngày đêm đối với vô số học viên Pháp Luân Công và toàn thể dân chúng Trung Quốc bình thường đã từng bước được hiện thực hóa.

Phố Wall ra sức đẩy sóng góp gió trong cơn “sốt Trung Quốc”. Trong những năm đầu tư vào Trung Quốc náo nhiệt nhất, bất kỳ công ty lớn có quy mô nào nếu chưa vào Trung Quốc, chưa tham gia chia phần miếng bánh thị trường khổng lồ Trung Quốc, thì không chỉ là bỏ lỡ, mà đơn giản là tội lỗi.

Truyền thông phương Tây cũng không dám tụt hậu: từ bài phóng sự trang bìa dài kỳ của tuần san “Time” Mỹ, đến “Thế kỷ Trung Quốc” của “Newsweek”; từ “Thách thức Trung Quốc” của “U.S. News and World Report” đến hàng loạt “phóng sự chuyên sâu về Trung Quốc” liên miên của “The Economist”, tần suất truyền thông nhắc đến “Trung Quốc” không kém gì nhắc đến “Nhà Trắng”. Tuần san “Der Spiegel” tiếng Đức từ sớm đã không nhịn nổi mà tâng bốc Thượng Hải thành “thành phố của tương lai”.

“The New York Times” năm 2005 từng đăng bài “Thủ đô thế giới, từ Khai Phong đến New York,  huy hoàng như mây khói thoảng qua” với tiêu đề bằng chữ Hán. Tác giả Nicholas Kristof từng là phóng viên thường trú Trung Quốc của New York Times; bài viết này chính là bình luận tác giả phát đi từ hiện trường Khai Phong. Tác giả chỉ ra: một nghìn năm trước, trung tâm thế giới ở Khai Phong của Trung Quốc; nghìn năm qua trung tâm thế giới chuyển từ Trung Quốc sang Mỹ; nay trung tâm kinh tế thế giới đang quay về Trung Quốc. Ông nhắc nhở người Mỹ: Trung Quốc đang phục hưng, trong mười mấy năm tới, Trung Quốc sẽ vượt Mỹ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới, nước Mỹ chớ có cho rằng thiên hạ vô ưu. Kristof để thu hút độc giả đã không dịch tiêu đề, chỉ qua bài viết cho độc giả biết ý ông muốn nói, đây cũng là lần đầu New York Times để đại bộ phận độc giả không hiểu trọn vẹn tiêu đề một bài báo. Kristof viết: một nghìn năm trước, thành phố quan trọng nhất thế giới là Khai Phong bên bờ Hoàng Hà; “nếu chúng ta nhìn lại lịch sử, sẽ phát hiện thời thịnh thế huy hoàng của một quốc gia như mây khói thoảng qua, chớp mắt liền tan; cảnh phồn hoa của thành thị lại càng như thế. Nếu người Mỹ chưa từng nghe nói đến Khai Phong, thì đây sẽ là một lời cảnh tỉnh rất hay; có lẽ tương lai người Mỹ đều nên học tiếng Hán, đúng như tiêu đề chữ Hán trên kia đã viết: ‘huy hoàng như mây khói thoảng qua’.”【5】

Nhóm người đặc biệt vận động cho Trung Cộng

Thương nhân nước ngoài đã triển khai cuộc vận động hành lang mạnh mẽ nhất thế giới giữa chính phủ các nước; sách lược độc đáo của họ là: kết nối với Trung Quốc thì tự do dân chủ phương Tây cũng sẽ vào Trung Quốc, thay đổi Trung Quốc.

Công ty Motorola vào Trung Quốc năm 1987, là một trong những doanh nghiệp đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Trung Quốc. Năm 2002, Motorola công bố chiến lược tại Hoa, tuyên bố đến năm 2006, giá trị sản lượng hàng năm của Motorola tại Trung Quốc sẽ đạt 10 tỷ đô la Mỹ; tổng đầu tư lũy kế tại Trung Quốc đạt 10 tỷ đô la Mỹ; trong 5 năm tới, lũy kế mua từ Trung Quốc 10 tỷ đô la Mỹ linh phụ kiện và dịch vụ. Motorola từng tích cực vận động Mỹ trao cho Trung Quốc quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR); Tổng giám đốc kiêm Giám đốc điều hành bấy giờ Christopher Galvin, khi Hạ viện Mỹ ngày 25 tháng 5 năm 2000 thông qua dự luật này với 237 phiếu thuận, 197 phiếu chống, đã nói: “Cuộc bỏ phiếu hôm nay là bước đi quan trọng để giữ sức cạnh tranh của Mỹ trong nền kinh tế toàn cầu ngày càng khốc liệt. Nói đơn giản: xuất khẩu nhiều sản phẩm hơn sang Trung Quốc, với công ty Mỹ nghĩa là nhiều cơ hội hơn, với công nhân Mỹ thì nghĩa là nhiều việc làm hơn.” Tổng giám đốc hãng chế tạo ô tô lớn nhất General Motors thì nói: PNTR sẽ dẹp bỏ những rào cản thương mại tồn tại lâu dài của Trung Quốc, tạo cơ hội kinh doanh mới cho công ty Mỹ; kim ngạch xuất khẩu của Mỹ sẽ tăng, tăng thêm cơ hội việc làm cho người Mỹ.【6】

Bất hạnh thay, thâm hụt thương mại Mỹ–Trung tăng liên tục: không phải Mỹ xuất khẩu nhiều sản phẩm hơn sang Trung Quốc, tăng cơ hội việc làm cho người Mỹ, mà đúng ngược lại, hàng “Made in China” bán phá giá toàn cầu; Mỹ sau khi chuyển ồ ạt ngành chế tạo sang Trung Quốc, người Mỹ mất rất nhiều cơ hội việc làm, đến nỗi Obama sau khi nhậm chức phải coi việc đưa ngành chế tạo hồi hương là biện pháp quan trọng để chấn hưng việc làm. “The New York Times” đưa tin: Tổng thống Mỹ Obama từng hỏi cựu CEO Apple Steve Jobs, vì sao bảy mươi triệu chiếc iPhone, ba mươi triệu chiếc iPad công ty Apple bán ra năm trước hầu như đều sản xuất ở hải ngoại (chủ yếu là Trung Quốc), lẽ nào những việc làm này không thể quay về trong nước Mỹ? Jobs đáp: “Những cơ hội việc làm này không quay về được đâu.” Nguyên nhân không quay về được, ngoài lương công nhân Trung Quốc rẻ mạt, điều Jobs muốn nói còn vì ở Trung Quốc có đội ngũ công nhân kỹ thuật ổn định với số lượng khổng lồ, còn Mỹ sau khi sản nghiệp rỗng ruột, trong ngắn hạn rất khó khôi phục quần thể công nhân kỹ thuật quy mô như thế.【7】

Tờ “The New Yorker” ngày 30 tháng 6 năm 2008, mục “Thế giới kinh doanh”, có bài viết dài “Của trời cho ùn ùn kéo đến” (The Brass Ring), viết về vua cờ bạc thế giới, ông chủ kiêm cổ đông lớn của khách sạn Venetian Ma Cao- Sheldon Adelson; trong đó nhắc đến trải nghiệm Adelson giao thiệp với quan chức Trung Cộng, giúp Trung Cộng vận động hành lang, còn Trung Cộng thì để Adelson lấy được giấy phép mở sòng bạc của tập đoàn Sands tại Ma Cao. Quan hệ chính–thương vốn dĩ rất kín đáo, người ngoài khó lòng biết được. Có điều, lần này hoàn toàn nhờ một thương nhân Hồng Kông tên Richard Suen (Tôn Chí Đạt) năm 2004 kiện Adelson ra tòa, mới phanh phui được màn nội tình này. Tôn Chí Đạt nói: Sands mở được sòng bạc hoàn toàn nhờ ông ta dẫn Adelson đả thông quan hệ với chính quyền Bắc Kinh; ông ta nói khoản thù lao Adelson hứa cho năm triệu đô la Mỹ cùng 2% lợi nhuận của Sands, không được thanh toán, nên ông ta kiện Adelson tại Las Vegas. Kết quả, lời khai của Tôn Chí Đạt đã phơi bày đoạn quan hệ này.

Tháng 7 năm 2001, Bắc Kinh đang tranh quyền đăng cai Olympic 2008; Tôn Chí Đạt cùng Adelson và Chủ tịch tập đoàn Sands Las Vegas Bill Weidner đến Bắc Kinh, thấy khắp thành phố rợp cờ Bắc Kinh vận động đăng cai Olympic. Qua thu xếp của Tôn Chí Đạt, họ hội kiến Thị trưởng Bắc Kinh bấy giờ Lưu Kỳ. Lúc đó Hạ viện Mỹ đang chuẩn bị thảo luận một nghị quyết do Tom Lantos, nghị sĩ Dân chủ kỳ cựu của Ủy ban Quan hệ Quốc tế Quốc hội, soạn thảo, nội dung là lấy lý do hồ sơ nhân quyền tồi tệ của chính quyền Bắc Kinh trái với tinh thần Olympic để phản đối Bắc Kinh xin đăng cai. Adelson thừa nhận: ông ta lập tức gọi điện cho Tom DeLay, “cây roi” của đảng Cộng hòa; bấy giờ DeLay nói bản thân ông ta cũng ủng hộ nghị quyết ấy, nhưng ông ta sẽ bàn lại chương trình nghị sự lập pháp với các nghị sĩ khác. Ba tiếng sau, DeLay gọi lại: “Anh may đấy… anh bảo ngài thị trưởng của các anh cứ yên tâm, nghị quyết ấy sẽ không được đưa ra thảo luận nữa.” Weidner cũng lập tức thông báo cho người vận động hành lang của tập đoàn Sands tại Washington, báo cho lãnh sự Trung Quốc trú Mỹ biết: Adelson và tập đoàn Sands đã tham gia ngăn chặn nghị quyết ấy.【8】

Trung Cộng không chỉ bỏ tiền lớn thuê chính khách, cơ quan, công ty, tài đoàn nước ngoài vận động chính phủ các nước vì lợi ích của mình; tệ hơn nữa, nó còn chọn lọc cung cấp cơ hội kinh doanh cá nhân hoặc tập đoàn cho các nhân vật chủ chốt giới chính trị, thương mại nước ngoài; cung cấp thông tin, vốn liếng và điều kiện tiếp xúc Trung Quốc cho các nhân vật giới học thuật, cuốn họ vào vòng tuần hoàn lợi ích, trở thành người thụ hưởng thực sự của “Trung Quốc trỗi dậy”, khiến họ đảm nhận vai trò thuyết khách tích cực, người thúc đẩy chủ động cho nước Trung Cộng. Trong số những người này không thiếu những cái tên rất có trọng lượng, như: Kissinger, Henry Paulson, Carter, Bill Clinton… thậm chí là một xu thế mang phạm vi thế giới: do người đứng đầu chính phủ các nước dẫn đầu, tranh nhau ùa vào nước Trung Cộng như nước thủy triều, chiếm tiên cơ về lợi ích kinh tế, làm kiến thiết chính trị khi đương triều, và làm cơ hội kinh doanh cá nhân sau khi rời chức.

Nhóm “cò kinh tế” tầng lớp cao

Tháng 4 năm 2012, đài RFI của Pháp đưa tin về những ví dụ chính khách Đức rời chức làm cò kinh tế: “Các chính trị gia cấp cao của Đức khi cầm quyền thu nhập đều có hạn, để tỏ thanh liêm. Sau khi rút khỏi chính trường, có người buông tay kiếm lớn, thu nhập cao hơn nhiều so với lương khi làm chính trị. Chính trị gia làm giàu kiểu này, ở Đức từ lâu đã là bí mật công khai. Họ sau khi rời chức thường làm cố vấn tư vấn doanh nghiệp, hoặc ra nước ngoài diễn thuyết. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Scharping, cựu Thủ tướng Schröder, cựu Thủ tướng cuối cùng (của Đông Đức) de Maizière… nay đều thường xuyên thăm Trung Quốc, mở đường cho doanh nghiệp Đức tại Trung Quốc. Cụ thể họ làm gì, mỗi lần thù lao bao nhiêu, những điều này họ đương nhiên không muốn tiết lộ. Nhưng thông thường, họ làm xong một việc ở Trung Quốc có thể nhận 10 nghìn đến 50 nghìn euro.

“Scharping năm nay 64 tuổi từng là yếu nhân của đảng Dân chủ Xã hội… Từ 1991 đến 1994, Scharping với tư cách Thủ hiến bang Rheinland-Pfalz, nhiều lần với thân phận chủ nhà tiếp đón các đoàn đại biểu Trung Quốc đến thăm Trier. Năm 2001, Scharping thăm Trung Quốc, trở thành Bộ trưởng Quốc phòng Đức đầu tiên thăm Trung Quốc. Năm 2002, Scharping vì bê bối vui đùa dưới nước với tình nhân mà buộc phải từ chức. Sau khi rời chức, Scharping chuyển sang giới kinh tế, chủ đạo nghiệp vụ tư vấn Trung Quốc, đường đi ngược lại càng lúc càng rộng. Ông ta thành lập ‘Công ty TNHH Tư vấn Giao lưu Chiến lược Scharping’, bắc cầu nối dây cho doanh nghiệp Đức muốn tiến quân vào Trung Quốc cùng doanh nghiệp Trung Quốc muốn vào Đức. Trung Quốc rất hứng thú với công nghệ bảo vệ môi trường và năng lượng xanh của Đức; các doanh nghiệp liên quan của Đức cũng rất muốn sang Trung Quốc kiếm một khoản; Scharping thế là ở hậu trường tìm mối quan hệ cho họ, để họ thực hiện được nguyện vọng của mình. Nay công ty tư vấn của Scharping có hơn 20 nhân viên. Bản thân Scharping mỗi năm đều nhiều lần sang Trung Quốc hoạt động.

“Cựu Thủ tướng Schröder thuộc đảng Dân chủ Xã hội khi cầm quyền đi đường lối thân thiện Trung Quốc, vì thế được người Trung Quốc gọi là ‘bạn cũ’… Do chức quan Schröder từng làm to hơn Scharping, nên ông ta cũng được người Trung Quốc hoan nghênh hơn. Schröder 67 tuổi nay cũng có không ít nghiệp vụ Trung Quốc, mỗi năm đều sang Trung Quốc ba, bốn lần hoặc đi diễn thuyết, hoặc lặng lẽ bắc cầu nối dây cho người ta, giúp người ta công phá quan ải, đi đường tắt.

“Xoay xở giữa hai giới chính–kinh Trung–Đức còn không ít người. Ví như cựu Tổng thống Đức Weizsäcker, cựu Tổng giám đốc Siemens von Pierer, cựu Bộ trưởng Kinh tế Glos, v.v. Glos thẳng thắn bày tỏ: loại hoạt động tư vấn này với giới kinh tế quả thực có ích. Do Trung Quốc đất rộng của nhiều, cửa ngõ đông đúc, những nhân tài Đức ‘mất việc’ này nhờ thế tiếp tục thần thông quảng đại, họ ở Trung Quốc có mở không hết cửa, bắc không hết cầu.”【9】

Ngày 7 tháng 9 năm 2011, mạng Tân Hoa đăng lại bài của Kính báo Hồng Kông “Ấn tượng Trùng Khánh của Kissinger”: “Từ năm 1971, tiến sĩ Kissinger trước sau 70 lần đến Trung Quốc, trong đó 50 lần là thăm chính thức, 20 lần là thăm cá nhân. Lần này đến Trùng Khánh cũng là lần thứ ba ông đến Trùng Khánh.” Kissinger trong thời gian thăm cảm khái: “Trùng Khánh hoàn toàn vượt quá tưởng tượng của tôi. Trùng Khánh hôm nay có được là nhờ sức tưởng tượng vĩ đại của người lãnh đạo và nỗ lực gian khổ của nhân dân Trùng Khánh. Sức sống của Trùng Khánh khiến tôi rung động.” “Từ chuyến thăm bí mật Trung Quốc 40 năm trước, tôi chưa từng nghĩ sẽ được thấy một nơi biến đổi kỳ diệu như thế này.”

“Kissinger (người đứng giữa) vô cùng thưởng thức các ca khúc cách mạng. Ảnh: ông tham dự ‘Trung Hoa Hồng Ca Hội’ khi thăm Trùng Khánh.” “Khi Kissinger, dưới sự tháp tùng của Bạc Hy Lai, xuất hiện tại Trung tâm Thể thao Olympic Trùng Khánh, cả sân 10 vạn quần chúng dậy tiếng hoan hô. Trong hội trường treo cao khẩu hiệu khổng lồ ‘Hồng ca tụng Đảng, hát vang Trung Quốc’. Đại hội hồng ca với chủ đề ‘Mãi mãi đi theo Đảng Cộng sản’. Đây là lễ khai mạc ‘Trung Hoa Hồng Ca Hội’ do Bộ Văn hóa quốc gia cùng Trùng Khánh đồng tổ chức.” “Trong tiếng hoan hô của 10 vạn quần chúng, Kissinger phát biểu ứng khẩu. Ông nói: ‘Tôi 40 năm nay không ngừng đến thăm Trung Quốc. Tôi vô cùng vui mừng thấy Trung Quốc trở thành một quốc gia vĩ đại không ngừng tăng trưởng, phồn vinh. Tôi càng chấn động khi thấy sự biến đổi long trời lở đất xảy ra ở Trùng Khánh. Tiến bộ to lớn của Trung Quốc là kết quả của tầm nhìn xa của người lãnh đạo Trung Quốc và sự phấn đấu gian khổ của nhân dân Trung Quốc. Biến đổi to lớn của Trùng Khánh đã triển hiện đầy đủ tầm nhìn xa trông rộng của Bí thư Bạc Hy Lai.'” Tiếp đó, “Bạc Hy Lai tuyên bố khai mạc hồng ca hội, cả sân hát vang ‘Đi theo Đảng Cộng sản’.” “‘Điều tôi thấy là tầm nhìn xa của người lãnh đạo Trung Quốc đối với tương lai. Tôi chấn động trước sức sống của Trùng Khánh’, Kissinger nói.”

“Kissinger tọa đàm với đại diện các doanh nghiệp Mỹ xây nhà máy tại Trùng Khánh, trong đó có Ford, HP, Microsoft, PayPal, Honeywell, eBay, GM, Pepsi, v.v. Doanh nghiệp Mỹ tại Trùng Khánh có hơn 500, kim ngạch hợp đồng 1,1 tỷ đô la Mỹ, liên quan điện tử, ô tô, phụ tùng, bất động sản, dịch vụ pháp lý, v.v. Năm ngoái thương mại của Trùng Khánh với Mỹ đạt 1,11 tỷ đô la Mỹ.”

“Kiến nghị của ngài dành cho các công ty Mỹ là gì?”, một đại diện công ty Mỹ hỏi Kissinger.

“Công ty Mỹ đến Trùng Khánh có ý nghĩa trọng đại,” Kissinger nói. “Tôi kiến nghị các công ty Mỹ hãy đến miền Tây Trung Quốc,” Kissinger nói.【10】

Giang Trạch Dân và Trung Cộng đã có thể từ cương lĩnh trị quốc của chính quyền để cho một bộ phận người trong nước được chọn lọc giàu lên trước; đã có thể dùng chính quyền quốc gia biến việc đánh tham nhũng có chọn lọc thành công cụ thi chính để bài trừ kẻ khác phe hoặc lôi kéo thân tín thì sao họ lại không thể từ chính sách mà hết sức chọn lọc để một số công ty lớn, tài đoàn lớn, chính khách cấp cao có sức ảnh hưởng quốc tế đối với sự trường trị cửu an của nền chuyên chế một đảng của họ, trở thành những người thụ hưởng, hưởng lợi sớm nhất từ sự phát triển của Trung Quốc?

Hiệu quả mua chuộc của Trung Cộng thể hiện thành: mua chuộc về kinh tế, mua chuộc về tâm lý, mua chuộc linh hồn; trong đó đã có thành phần người bị mua chuộc chủ động tiếp nhận. Khi những con người bị lợi ích của Trung Cộng chinh phục mất đạo đức chủ động cung cấp vận động hành lang cùng các dịch vụ khác, thì việc mua chuộc linh hồn cũng đại công cáo thành. Trên thực tế, số thương nhân và công ty nước ngoài chủ động chiều theo sở thích, đích thân thực hành trò đưa nhận hối lộ mang đặc sắc Trung Quốc, đã tăng vọt.

Phần thứ ba: Sự cám dỗ của “ngoại giao đơn hàng”

Bắt đầu từ thời Giang Trạch Dân, chiêu số được Trung Cộng dùng rộng rãi nhất trong ngoại giao chính là “ngoại giao đơn hàng”, còn gọi là “ngoại giao kinh tế – thương mại” hay “ngoại giao mua sắm”. Ngoại giao đơn hàng là thông qua việc mua với số lượng lớn hàng hóa của nước đối tượng, dùng cái lợi kinh tế thể hiện qua đơn hàng để khiến chính phủ nước đối tượng áp dụng chính sách có lợi cho Trung Cộng; hoặc kiến lập liên hệ chặt chẽ với các tập đoàn lợi ích đặc định của nước đối tượng, mượn tay họ vận động chính phủ nước mình, từ đó ảnh hưởng đến chính sách đối Hoa của chính phủ ấy.

Quan hệ Trung – Phi không giảng nguyên tắc

Giang Trạch Dân và Trung Cộng đi lại khắp các châu lục, chỗ dựa đầu tiên là quan hệ với các quốc gia châu Phi.

Giang Trạch Dân nói: “Châu Phi có năm mươi ba quốc gia, trong Phong trào Không liên kết chiếm khoảng một nửa, trong các nước thành viên Liên Hợp Quốc chiếm gần một phần ba.”【11】Giang Trạch Dân cho rằng Trung Quốc và châu Phi “trở thành bạn bè ‘toàn thiên hậu’ (mọi hoàn cảnh) có thể tin cậy lẫn nhau”, “đối đãi bình đẳng, không can thiệp nội chính của nhau”【12】, “viện trợ chính phủ không kèm bất kỳ điều kiện chính trị nào”.【13】Vì vậy Trung Quốc xưa nay không hề đưa ra yêu cầu nguyên tắc nào với các quốc gia châu Phi; châu Phi do đó cũng vô nguyên tắc ngả về phía Trung Cộng trong các vấn đề trọng đại.

“Đại đa số quốc gia đều tán thành và nghiêng về đa cực hóa thế giới, đều không muốn thấy thế giới bị một nước độc bá. Đặc biệt các nước đang phát triển kiên quyết phản đối luận điệu ‘nhân quyền cao hơn chủ quyền’, phản đối một số nước phương Tây lợi dụng toàn cầu hóa kinh tế để mưu lợi riêng. Có những lãnh đạo nước phương Tây cũng bày tỏ nên thúc đẩy đa cực hóa thế giới, bảo vệ quyền uy của Liên Hợp Quốc. Đương nhiên, nước nào cũng có toan tính lợi ích riêng, mục đích không hoàn toàn giống nhau. Thứ ba, các nước đang phát triển là lực lượng quan trọng thúc đẩy hòa bình và phát triển thế giới. Khi tôi thăm các nước phương Tây, thường có một số phần tử gọi là ‘dân vận’, phần tử ‘Tây Tạng độc lập’, phần tử ‘Đài Loan độc lập’ ra quấy nhiễu, kỳ thực có những nước phương Tây mắt nhắm mắt mở, gây áp lực với chúng ta. Còn ở các nước đang phát triển thì không có chuyện như thế. Nhân dân nơi đó với chúng ta vô cùng nhiệt tình hữu hảo. Sự thực ngày càng chứng minh đầy đủ: các nước đang phát triển muốn thực hiện phồn vinh và an ninh, chỉ dựa vào hợp tác với các nước phát triển là không được, còn phải dựa vào tăng cường hợp tác giữa các nước đang phát triển với nhau, tăng cường hợp tác Nam – Nam. Hết sức chú ý tăng cường đoàn kết hợp tác với các nước thế giới thứ ba, đây là một đại chiến lược trong xử lý quan hệ đối ngoại của chúng ta.”【14】

Đối với các quốc gia châu Phi và các nước đang phát triển khác, sự cám dỗ kinh tế của Trung Cộng thường được thực hiện thông qua viện trợ kinh tế. Giang Trạch Dân cung cấp cho các quốc gia châu Phi “viện trợ chính phủ không kèm bất kỳ điều kiện chính trị nào”.【15】Chính sách này được trình bày rõ ràng trong “Văn kiện chính sách đối Phi của Trung Quốc” do chính phủ Trung Quốc công bố năm 2006: “Chính phủ Trung Quốc sẽ căn cứ tài lực và tình hình phát triển kinh tế của mình, tiếp tục cung cấp và từng bước gia tăng viện trợ trong khả năng, không kèm điều kiện chính trị cho các quốc gia châu Phi.”

Ngược với Trung Quốc, viện trợ của các nước phương Tây cho các nước thế giới thứ ba thường kèm những điều kiện nhất định, như giảm tham nhũng, cải thiện dân chủ, tiến tới kinh tế thị trường, v.v., thúc đẩy nước được viện trợ có thể cải tiến về chính trị, đạo đức, kinh tế. Còn viện trợ của Trung Quốc là không kèm điều kiện, chẳng giúp ích gì cho tiến trình dân chủ hóa, thị trường hóa của các nước này, nhưng lại có tác dụng khuyến khích và cố ý dung túng hiện tượng bại hoại đạo đức ở các nước ấy. Chính vì không kèm điều kiện, viện trợ của Trung Quốc được các nước thế giới thứ ba này hoan nghênh hơn viện trợ của phương Tây.

Trung Quốc theo đó thao túng các quốc gia này khuấy loạn công việc quốc tế. Từ 1999 đến 2002, Trung Cộng đã thao túng những đồng minh thế giới thứ ba như thế, thành công chặn đứng các nghị án do Mỹ đề xuất tại Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc về tình trạng nhân quyền xấu đi của Trung Quốc; về sau dứt khoát dùng số phiếu của các nước này đá Mỹ ra khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, đến nỗi Mỹ không còn quyền phát ngôn. Vì toan tính đơn hàng của Trung Quốc, không một quốc gia châu Âu nào chịu như Mỹ kiên trì thách thức Trung Quốc trong vấn đề nhân quyền. Suốt mấy năm, đại hội nhân quyền Liên Hợp Quốc không thông qua bất kỳ nghị án nào phê phán tình trạng nhân quyền Trung Quốc. Từ sau 2002, ngay cả nghị án như thế cũng không một quốc gia nào đề xuất nữa. Ngoại giao đơn hàng của Trung Cộng đã đổi lấy sự trượt dốc đạo đức của chính phủ các nước.

Từ châu Âu mở toang cửa ngõ phương Tây

Đối đãi với phương Tây thế nào, Giang Trạch Dân cũng có một bộ phương pháp. Ông ta nói: “Hiện nay tương quan lực lượng quốc tế mất cân bằng nghiêm trọng; thực lực kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật của Mỹ rõ ràng vượt trội các nước khác, là cực siêu cường của thế giới ngày nay. Mỹ đang ráo riết thi hành chiến lược toàn cầu của nó, cổ xúy ‘chủ nghĩa can thiệp mới’, đẩy mạnh ‘chính sách pháo hạm’ kiểu mới, khắp nơi can thiệp nội chính nước khác, thậm chí dùng vũ lực. Thế nhưng, nội bộ Mỹ mâu thuẫn chồng chất; sự kiềm chế của các lực lượng hòa bình và tiến bộ thế giới đối với Mỹ cũng đang tăng cường, nó muốn độc bá thế giới cũng lực bất tòng tâm… Nội bộ các nước phương Tây cũng không phải một khối sắt liền. Tiến trình nhất thể hóa EU những năm gần đây có tiến triển thực chất, với Mỹ có mâu thuẫn về quyền chủ đạo công việc an ninh châu Âu cùng lợi ích chính trị, kinh tế. Nhật Bản về chính trị, ngoại giao, quân sự thì nhìn sắc mặt Mỹ mà thở, nhưng về kinh tế thương mại với Mỹ tích oán khá nhiều. Nga về kinh tế có cầu ở phương Tây, nhưng trong các vấn đề NATO mở rộng về phía Đông, cắt giảm vũ khí hạt nhân, v.v. mâu thuẫn với Mỹ, Tây Âu rất sâu… Các thế lực thù địch quốc tế không muốn thấy Trung Quốc ngày càng lớn mạnh, ra sức thi hành chiến lược chính trị Tây hóa, phân hóa đối với nước ta; mưu đồ chiến lược đánh sập Trung Quốc xã hội chủ nghĩa sẽ không thay đổi. Về điều này, chúng ta phải luôn giữ nhận thức tỉnh táo.”【16】

Chia rẽ Mỹ và châu Âu là tối quan trọng trên bàn cờ của Trung Cộng. Từ châu Âu mở cửa ngõ vào liên minh phương Tây là chiến lược ngoại giao của Giang Trạch Dân và Trung Cộng. Phương Tây sau Chiến tranh Lạnh muốn có sự trỗi dậy của các lực lượng đa cực, bản thân điều đó không có gì đáng trách. Nhưng lý niệm tự do, sự kết tụ của đạo đức và tín ngưỡng là không thể chia lìa. Kết quả của sự phân tán là lực lượng mỗi bên đều suy yếu,  không chỉ về kinh tế, chính trị, mà còn là sự trượt dốc về đạo đức, về tinh thần lập quốc, về sự kiên thủ giá trị phổ quát, về niềm tin Thượng Đế che chở nhân loại. Điều này chẳng những mang tai họa đến cho thế giới tự do phương Tây, đồng thời để lại cho Trung Cộng cái tổ kiến để chia rẽ mà chui vào. Thủ pháp “thống chiến” (mặt trận thống nhất) xưa nay của Trung Cộng được đem dùng tiếp trên vũ đài quốc tế: có kéo có đánh, vừa kéo vừa đánh, lợi dụng mâu thuẫn giữa người khác, khoét rộng kẽ hở, phân hóa làm tan rã, luồn lách gây dựng thế lực của Trung Cộng.

Trung Cộng đã chọn Pháp và Đức làm cửa đột phá sớm nhất để công hãm châu Âu.

“Ngoại giao đơn hàng”, từ Pháp và Đức đột phá châu Âu

Đối diện thế giới phương Tây do Mỹ chủ đạo, Giang Trạch Dân biết nó còn xa mới là một khối sắt liền. Giang một mặt ứng phó với Mỹ, mặt khác ra sức cải thiện và phát triển quan hệ với các cường quốc châu Âu, phát hiện và lợi dụng đặc điểm lợi ích tự thân của các cường quốc phương Tây để đánh gục từng nước một, phân hóa làm tan rã liên minh của phương Tây đối với Trung Quốc.

Cách nói của Giang Trạch Dân về công tác ngoại giao là: “Trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền, chúng ta vừa kiên trì nguyên tắc, vừa kiên trì linh hoạt, lợi dụng mọi mâu thuẫn có thể lợi dụng, mở rộng dư địa xoay xở của chúng ta.”【17】Năm 2000, Giang Trạch Dân nhấn mạnh thêm: “Triển khai công tác đối với các nước phương Tây, phải nắm trọng điểm mà đột phá; đồng thời phải khéo lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước phương Tây để tiến hành cuộc đấu tranh tung hoành bãi hạp (liên hoành hợp tung). Phải lợi dụng ưu thế thị trường của nước ta, điều động tính tích cực của giới kinh tế phương Tây trong phát triển quan hệ với Trung Quốc.”【18】

“Lợi dụng mọi mâu thuẫn có thể lợi dụng, mở rộng dư địa xoay xở của chúng ta.” Chiến lược ngoại giao của Giang Trạch Dân và nước Trung Cộng nhất định phải chia rẽ Mỹ và châu Âu; còn tại châu Âu, lựa chọn đột phá hàng đầu của Giang Trạch Dân và Trung Cộng là Pháp.

◎ Quan hệ Trung – Pháp

Nhắc đến Pháp, trước hết đó là nước Pháp văn hóa. Ảnh hưởng của Pháp đối với các nước châu Âu về văn hóa rất lớn. Lịch sử châu Âu cận đại từng lần lượt xuất hiện sự huy hoàng của “Hạm đội Vô địch” Tây Ban Nha và “Phu xe ngựa trên biển” Hà Lan, nhưng đó chủ yếu là thành tựu về thương mại và quân sự; về văn hóa còn khó bề sánh kịp thế hùng bá châu Âu của văn hóa Pháp: các cuộc chinh phục đối ngoại của Louis XIV, Napoléon đã đưa tiếng Pháp và lễ nghi Pháp vượt sông Rhine, dãy Ural và vùng Alps, trở thành đối tượng mà quý tộc cả lục địa châu Âu tranh nhau học tập, mô phỏng.

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, sống trong thế giới Mỹ độc bá thiên hạ, Pháp chuyển sang theo đuổi đa dạng văn hóa và đa cực hóa thế giới để triển hiện ý chí quốc gia của tự thân. Về văn hóa, Pháp nỗ lực bảo vệ tính độc lập văn hóa của mình, đề xướng “đa dạng văn hóa” để chống lại yêu cầu của Mỹ đòi châu Âu mở cửa thị trường sản phẩm văn hóa cùng sự xâm nhập văn hóa của Hollywood; về chính trị, Pháp đề xướng đa cực hóa thế giới, nỗ lực nâng cao sức ảnh hưởng của châu Âu và của chính mình, với tư cách nước lớn châu Âu trên thế giới; về hệ tư tưởng, là nơi ra đời của Công xã Paris, chính quyền cộng sản chủ nghĩa đầu tiên, chế độ chính trị – kinh tế của Pháp có nhân tố cộng sản chủ nghĩa nhất định, như nhấn mạnh phúc lợi xã hội, v.v. Truyền thông Trung Quốc thậm chí có cách nói “Pháp là Trung Quốc của phương Tây, Trung Quốc là nước Pháp của phương Đông”.【19】Những đặc điểm này của Pháp khiến nó tự nhiên trở thành một quân cờ quan trọng để Trung Cộng ứng phó với Mỹ.

Chính dựa trên đặc điểm tự thân ấy, chính phủ Pháp bất chấp thái độ của các nước phương Tây khác, tháng 1 năm 1964 đi đầu thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, trở thành nước lớn phương Tây đầu tiên bang giao với Trung Quốc. Còn các nước phương Tây khác mãi đến thập niên 70, cùng với sự thay đổi của quan hệ Trung – Mỹ, mới dần thực hiện bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.

Sau “Lục Tứ”, Pháp cũng như các nước phương Tây khác áp dụng chế tài kinh tế đối với Trung Quốc, và năm 1992 bán cho Đài Loan 60 máy bay “Mirage”, khiến quan hệ hai nước rơi xuống đáy vực.

Trung Cộng lợi dụng cám dỗ kinh tế, nhu cầu chính trị của bản thân nước Pháp, cộng thêm thiện cảm của Chirac đối với Trung Quốc, tìm đủ cách khiến quan hệ Trung – Pháp dần dần thoát khỏi đáy vực. Năm 1993, Trung – Pháp bắt đầu đàm phán bí mật. Tháng 1 năm 1994, Trung – Pháp ra thông cáo chung, Pháp cam kết không bán vũ khí cho Đài Loan nữa. Tháng 4 năm 1994, Thủ tướng Pháp Balladur thăm Trung Quốc. Tháng 9 năm 1994, Giang Trạch Dân thăm Pháp. Tháng 5 năm 1997, Chirac thăm Trung Quốc, cùng Giang Trạch Dân ký “Tuyên bố quan hệ đối tác toàn diện Trung – Pháp hướng tới thế kỷ 21”; Pháp trở thành quốc gia đầu tiên kiến lập quan hệ đối tác với Trung Quốc.

Năm 1998, Giang Trạch Dân bổ nhiệm đại sứ trú Pháp, yêu cầu người này “phải đẩy quan hệ Trung – Pháp lên”; việc nguyên thủ Trung – Pháp thăm quê hương của nhau trong “ngoại giao nguyên thủ” chính là một trong những mưu hoạch ấy. Từ ngày 23 đến 24 tháng 10 năm 1999, Giang Trạch Dân thăm Corrèze, quê hương Tổng thống Chirac. Từ ngày 21 đến 22 tháng 11 năm 2000, Tổng thống Chirac thăm đáp lễ Dương Châu, quê hương Giang Trạch Dân.

Pháp đã coi trọng văn hóa, thì cán bộ đắc lực của Giang Trạch Dân chiều theo sở thích, từ văn hóa của Pháp mà mở cửa ngõ, cũng là mưu lược tấn công tối ưu để né tránh sự vận hành chính trị quốc tế nhạy cảm và sự khác biệt hệ tư tưởng. Một cách làm khác là “Năm văn hóa Trung – Pháp” kéo dài hai năm. Hoạt động này luôn được Giang quan tâm. Năm 1999 và 2000, Giang Trạch Dân và Chirac trong các chuyến thăm lẫn nhau đã cùng xác định tổ chức Năm văn hóa Trung – Pháp. Hai bên thương định: từ tháng 10/2003 đến tháng 7/2004, Trung Quốc tổ chức năm văn hóa tại Pháp; từ mùa thu 2004 đến tháng 7/2005, Pháp tổ chức năm văn hóa tại Trung Quốc.

“Năm văn hóa” trở thành một trong những vũ khí ngoại giao của Trung Cộng. Về sau còn tổ chức không ít lần ở các nước khác đều là hoạt động lấy giao dịch làm chủ đạo. Mặc dù thứ Trung Cộng xuất khẩu không phải văn hóa Trung Hoa mà là văn hóa Trung Cộng, nhưng vì giương chiêu bài “văn hóa” nên cũng là thứ khiến người ta ít đề phòng nhất.

Đến đầu thế kỷ 21, quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và Pháp đã vô cùng mật thiết, ở vào thời kỳ tốt đẹp nhất trong lịch sử, chủ yếu do nhiều lập trường chính trị chung và sự hợp tác mà hai nước sở hữu; ngoài thể hiện ở sự gần gũi trong cách nhìn về phản đối chiến tranh Iraq, về hạt nhân Triều Tiên, hạt nhân Iran và xung đột Lebanon, v.v., điểm chung quan trọng hơn là hai nước đều ngầm hiểu với nhau mà phản đối cục diện chính trị thế giới do Mỹ chủ đạo. Nước Trung Cộng nỗ lực làm mình trỗi dậy, hy vọng tương lai trở thành một lực lượng có thể đối trọng với Mỹ; Pháp thì hy vọng thông qua đẩy nhanh tiến trình nhất thể hóa EU để tạo ra một lực lượng kiềm chế khác.

Năm văn hóa Trung – Pháp bao trùm các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, quân sự, văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, giáo dục, thể thao, điện ảnh truyền hình, xuất bản, du lịch, ẩm thực, thời trang, văn vật, v.v. Kim ngạch thương mại Trung – Pháp năm 2000 là 7,16 tỷ đô la Mỹ; đến năm 2005, năm “Năm văn hóa Trung – Pháp” kết thúc thời kỳ vọt lên 20 tỷ đô la Mỹ. Trung Cộng dùng “ngoại giao đơn hàng” mở toang cánh cửa nước Pháp; châu Âu từ đó không còn là bức tường đồng vách sắt của lý niệm tự do nữa. Từ cái tổ kiến đạo đức của nước Pháp, sự cám dỗ của lợi ích dần dần ăn mòn, xuyên thủng nền móng của văn minh châu Âu được kiến lập mấy nghìn năm. Về sau các nước thấy được những món lợi mà Pháp và Đức nhận được, liền tranh nhau kiến lập quan hệ đơn hàng với nước Trung Cộng, bùng phát không sao thu lại được.

Năm 2010 đã có hơn 3.800 doanh nghiệp Pháp phát triển tại Trung Quốc. Kim ngạch thương mại song phương từ mỗi năm 100 triệu đô la Mỹ nâng lên mỗi ngày hơn 100 triệu đô la Mỹ. Tính đến cuối năm 2010, các dự án đầu tư của Pháp tại Trung Quốc là 4.121, vốn ngoại theo hợp đồng 16,86 tỷ đô la Mỹ, đầu tư thực tế 10,75 tỷ đô la Mỹ. Còn theo thống kê của Cơ quan Đầu tư Quốc tế Pháp (AFII), tính đến nay, các loại đầu tư của Trung Quốc vào Pháp lũy kế chỉ gần 1,5 tỷ đô la Mỹ. Năm 2002, tập đoàn xuyên quốc gia nổi tiếng của Pháp Alcatel dời tổng bộ châu Á – Thái Bình Dương và trung tâm nghiên cứu phát triển sang Trung Quốc. Công ty Điện lực Pháp (EDF) cũng đặt tổng bộ châu Á – Thái Bình Dương tại Bắc Kinh.

Pháp là một trong những nước nguồn chính để Trung Quốc nhập khẩu công nghệ, cũng là nước Trung Quốc dùng ngoại tệ hiện có nhập công nghệ khá nhiều. Trung Cộng luôn chơi trò ngoại giao xảo trá giữa mua máy bay Boeing của Mỹ và mua Airbus của Pháp, dùng cám dỗ kinh tế thương mại để thi hành áp lực chính trị quốc tế. Tháng 4 năm 2003, phía Trung Quốc mua 30 máy bay Airbus. Năm 2006, Trung Quốc mua 40 chiếc Airbus, tổng giá trị 2,6 tỷ euro. Trong 9 tháng đầu năm 2007, Trung Quốc mua 28 chiếc Airbus, tổng giá trị 1,753 tỷ euro.  Trung Quốc vẫn là nước mua Airbus số một. Pháp kiếm bộn tiền; công ty Boeing của Mỹ sốt ruột giậm chân.

Trong thời gian Chirac làm tổng thống, hai nước Trung – Pháp từ “quan hệ đối tác toàn diện” ban đầu nâng cấp thành “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện”. Trong “tuần trăng mật chính trị” này, hai bên đều mong hai nước bước vào “tuần trăng mật kinh tế”.

Ý đồ ban đầu của Trung Cộng khi lật đổ nước Pháp là để đột phá chế tài quốc tế cấm vận vũ khí. Tâm huyết của Giang Trạch Dân đối với Pháp không uổng phí: Pháp trong một số công việc quốc tế trọng đại không còn kiên thủ nguyên tắc chính nghĩa, chuyển sang ủng hộ lập trường của Trung Quốc. Như tại hội nghị Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc năm 1997, Pháp không tham gia nghị án do Mỹ dẫn đầu đề xuất lên án tình trạng nhân quyền Trung Quốc, cùng khiến nghị án này bị phủ quyết dưới hình thức không đưa ra thẩm nghị. Lại như trong vấn đề lệnh cấm bán vũ khí của EU đối với Trung Quốc, Pháp tích cực chạy vạy hô hào cho việc EU dỡ bỏ lệnh cấm; nhưng do nhiều nước EU phản đối, lệnh cấm đến nay vẫn chưa được hủy bỏ. Năm 2003, Pháp làm chủ tịch luân phiên Hội nghị nhóm G8; Tổng thống Chirac đề xuất hội nghị G8 ngoài tám nước tham dự còn nên mời một số nước mới nổi. Chirac nói xong liền phái cố vấn của mình tìm đại sứ Trung Quốc trú Pháp năm ấy là Ngô Kiến Dân, mong có thể mời đảng khôi Trung Cộng dự họp.

Nhưng lý niệm giá trị của nước Trung Cộng và phương Tây rốt cuộc vẫn khác nhau, mâu thuẫn cũng thường xảy ra. Như năm 2008, Hội đồng thành phố Paris thông qua nghị quyết trao cho Đạt Lai danh hiệu gọi là “công dân danh dự”. Mạng Tân Hoa, Bắc Kinh, điện ngày 7 tháng 5 năm 2009: “Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mã Triều Húc ngày 7 tuyên bố: phía Trung Quốc yêu cầu phía thành phố Paris chấm dứt mọi hành vi can thiệp nội chính Trung Quốc, đừng sai lầm hết lần này đến lần khác trong vấn đề liên quan Tây Tạng.” Mã Triều Húc nói: “Nếu chính quyền thành phố Paris trao cho Đạt Lai danh hiệu gọi là ‘công dân danh dự’, ắt sẽ vấp phải sự phản đối kiên quyết của nhân dân Trung Quốc (đúng ra phải là nước Trung Cộng, chú của tác giả).”【20】

Tổng thống Pháp Sarkozy tháng 12 năm 2008 khăng khăng hội kiến Đạt Lai Lạt Ma tại Ba Lan; Trung Quốc liền tạm ngừng tổ chức hội nghị thượng đỉnh với EU do Pháp làm chủ tịch luân phiên. Trước thềm hội nghị thượng đỉnh G20 London tháng 4, quan hệ hai nước xoay chuyển lớn: Trung – Pháp ra thông cáo chung; “Thông cáo” viết: Pháp nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và tính nhạy cảm của vấn đề Tây Tạng, tái khẳng định kiên trì chính sách một Trung Quốc, kiên trì Tây Tạng là bộ phận lãnh thổ không thể chia cắt của Trung Quốc. Ít lâu sau, Chủ tịch nước Trung Quốc hội kiến Tổng thống Pháp Sarkozy; Trung Quốc còn tuyên bố sẽ phái sang Pháp một đoàn đại biểu thương mại và đầu tư.

Ngày 5 tháng 11 năm 2010, mạng Tân Hoa và Nhân Dân Net đăng bài “Truyền thông Pháp: Đối đãi Trung Quốc cần phải nâng như nâng trứng”, trích một phần nguyên văn như sau:

Bài trên tờ “Libération” của Pháp ngày 3 tháng 11, nguyên đề “Cẩn thận hầu hạ đại nhân Trung Quốc” (tác giả Arnaud Vaulerin): “Cùng với việc Hồ Cẩm Đào sang thăm Pháp, nhiều nhân sĩ giới chính trị và kinh tế Pháp sẽ thở phào nhẹ nhõm. Từ năm 2008 đến nay, những người bạn này của Trung Quốc đều muốn quên đi trải nghiệm không vui khi ngọn đuốc Olympic rước qua Paris cùng cái bắt tay của Sarkozy với Đạt Lai Lạt Ma ở Ba Lan, bởi những chuyện này đã ảnh hưởng nghiêm trọng quan hệ ngoại giao hai nước và quấy nhiễu thương mại.

“Các nhân sĩ thân Hoa khai mở mọi kênh đối thoại khả dĩ. Tháng 4 năm 2009, Chủ tịch Quốc hội Bernard Accoyer mang theo thư mời của Sarkozy gửi Hồ Cẩm Đào sang Trung Quốc chấp hành nhiệm vụ ngoại giao. Nửa năm sau, Bộ trưởng Kinh tế, Tài chính và Việc làm Christine Lagarde, dưới sự tháp tùng của các tổng giám đốc công ty Danone, Tập đoàn Hàng không Quốc phòng và Vũ trụ châu Âu (EADS) cùng Carrefour, đã trải qua 3 ngày đầy thành quả tại Bắc Kinh. Vị nữ bộ trưởng này cũng là một trong những nhân vật then chốt khôi phục quan hệ hữu hảo với Bắc Kinh.

“Thân Hoa vượt lên trên đủ loại khuynh hướng thiên kiến. Thượng nghị sĩ đảng Xã hội tỉnh Drôme Jean Besson, với tư cách Chủ tịch nhóm hữu nghị Pháp – Trung của Thượng viện Pháp, bày ra tư thế ‘người hiện thực chủ nghĩa đối Hoa’. Nhân sĩ thân Bắc Kinh này tuyên bố: ‘Đừng mạo hiểm xem nhẹ nước sẽ là nền kinh tế số một thế giới trong tương lai.’ Ông ta nói: ‘Việc Sarkozy không có bất kỳ biểu thái nào sau khi Lưu Hiểu Ba nhận giải Nobel Hòa bình là có lý do. Nếu không có thể dẫn đến hậu quả tài chính và kinh tế.’

“Ông Temman, người còn Trung Quốc hơn cả người Trung Quốc cho rằng: ‘Về phương diện nhân quyền nên chấm dứt cách làm nóng vội; họ đang làm những việc trong khả năng. Chẳng cần đòi thả người đoạt giải Nobel Hòa bình, điều đó không đi đến đâu cả.'”【21】

Dịch từ: https://www.epochtimes.com/b5/12/6/18/n3615092.htm

Bản dịch có thể được chỉnh sửa trong tương lai để sát hơn với nguyên tác.

Ngày đăng: 6-08-2026