Trăm năm mộng tỉnh (22): Tại sao người Trung Quốc lại trở nên trục lợi cho bản thân
—Cội rễ của dân tộc Trung Hoa và sự nguy hại của lý thuyết cộng sản—
Tác giả: Kính tạ Ân
[Chanhkien.org]
(8) Cải cách mở cửa đã khiến trạng thái tinh thần của người dân và xã hội trở nên trầm mê trong lợi ích
Nói đến việc Trung Cộng cải cách mở cửa, người dân thường có những đánh giá khác nhau, có người khen ngợi, có người chỉ trích, và cũng có người chế giễu. Sở dĩ có sự khác biệt lớn này là vì người ta chưa nhận ra rằng thế lực thực sự chỉ đạo cải cách và mở cửa chính là ma quỷ. Tất cả những gì Trung Cộng làm đều bị ma quỷ dẫn dắt, bao gồm cả cải cách mở cửa. Dưới ảnh hưởng của ma quỷ, không chỉ khiến cho những người cầm quyền trong xã hội Trung Quốc chạy theo lợi nhuận cực đoan, mà còn khiến cho cảnh giới tinh thần của người dân Trung Quốc càng thêm trượt dốc.
Quá trình thứ nhất: Khi Trung Cộng thiết lập chính quyền, nó đã được hưởng lợi từ kết quả của nền giáo dục văn hóa truyền thống Trung Quốc, bao gồm cả tố chất quốc dân được hình thành từ nền giáo dục trong thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc.
Năm 1949, Trung Cộng đánh đuổi Quốc dân đảng sang Đài Loan và thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Đại Lục. Kể từ đó, Trung Cộng đã được hưởng lợi từ vùng đất Đại Lục và nhân dân mà chính phủ Quốc dân đảng để lại. Về mặt giáo dục, những người này chủ yếu được nuôi dưỡng bằng ba loại hình giáo dục. Loại hình thứ nhất có quy mô lớn nhất, đến từ văn hóa truyền thống Trung Quốc. Nền văn hóa truyền thống Trung Quốc được tích lũy qua thời Tam Hoàng Ngũ Đế và các triều đại như Hạ, Thương, Chu, cho đến Hán, Đường, Minh, Thanh, cho nên nó có tính hệ thống rất cao. Hình thức biểu hiện của nó không chỉ bao gồm Tứ thư Ngũ Kinh, mà còn có cả văn nghệ và hý kịch, phương thức sinh hoạt hàng ngày. Nền giáo dục này chủ yếu bồi dưỡng các phẩm hạnh như trung hiếu, cần cù,… Loại hình thứ hai là nền giáo dục mới nổi lên trong thời kỳ Quốc dân đảng. Nền giáo dục này là sự kết hợp giữa văn hóa truyền thống Trung Hoa và văn hóa dân chủ lập hiến. Trong thời kỳ Quốc dân đảng, Trung Quốc vẫn đang ở giai đoạn nghèo đói; Làm thế nào để cứu vãn đất nước là chủ đề của thời đại, vì vậy lòng yêu nước, văn minh, khoa học và dân chủ là những chủ đề của nền giáo dục Trung Hoa Dân Quốc. Loại hình thứ ba là giáo dục chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản đã du nhập vào Trung Quốc hơn 20 năm; mặc dù tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng nó đã thâm nhập vào tư tưởng của một số người. Cốt lõi của giáo dục chủ nghĩa cộng sản là đấu tranh giai cấp và cải cách ruộng đất, dùng vũ trang để đoạt lấy chính quyền, phê phán chính quyền và xã hội hiện tại, tin rằng chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới có thể cứu Trung Quốc.
Sau khi Trung Cộng xây dựng chính quyền, phần lớn dân số vẫn lớn lên dưới nền giáo dục văn hóa truyền thống, bao gồm cả thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc. Những người này không nhận ra sự khác biệt giữa Đảng Cộng sản và các triều đại trước đây của Trung Quốc truyền thống, họ chỉ đơn giản tin rằng khi quốc gia thống nhất rồi, biết đâu những ngày tháng tươi đẹp hơn sẽ đến, cứ thế ôm một lòng yêu nước như trong lịch sử truyền thống.
Quá trình thứ hai, thời kỳ Mao Trạch Đông thống trị chủ yếu dùng sự lừa dối và cưỡng chế để cai trị người dân, người bị lừa dối lại luôn cho rằng bản thân đang làm việc tốt.
Sau khi Trung Cộng xây dựng chính quyền vào thời kỳ Mao Trạch Đông, các biện pháp được sử dụng để cai trị người dân Trung Quốc, bao gồm thường dân và quan chức, có thể được tóm tắt trong hai từ: cưỡng bức và lừa dối. “Cưỡng bức” chính là việc ép buộc người dân tuân theo chỉ thị của Mao Trạch Đông và Trung Cộng để làm việc xấu, chẳng hạn như trong phong trào Đại nhảy vọt, đấu tố địa chủ và phong trào lên núi xuống thôn,…. “Lừa dối” là thông qua việc tuyên truyền để nói rằng chỉ thị của Mao Trạch Đông và Trung Cộng là vì nhân dân, vì lý tưởng vĩ đại nhất, để lừa gạt nhiều người tự giác tham gia các phong trào lên núi xuống thôn, đấu tố địa chủ, đại nhảy vọt,… Trong môi trường vừa bị cưỡng bức vừa bị lừa dối này, rất nhiều người trong xã hội Trung Quốc, đặc biệt là những người dân ở cấp cơ sở thiếu thông tin toàn diện và thường chủ quan tin rằng họ đang cống hiến cho nhân dân và quốc gia. Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa, Mao Trạch Đông đã huy động được hàng triệu Hồng vệ binh để “bảo vệ Chủ tịch Mao”. Các phe phái khác nhau trong Hồng vệ binh đều chiến đấu vì “cách mạng” và “bảo vệ Chủ tịch Mao”, nhưng giữa họ lại xảy ra xung đột vũ trang; khi đó xuất hiện nhiều tình cảnh gia đình bất hòa, thầy trò thành thù, tất cả những điều này đều liên quan đến việc người dân Trung Quốc bị lừa dối và bị cưỡng bức. Họ bị thiếu thông tin trầm trọng, do đó không thể suy nghĩ một cách đúng đắn. Nó cũng liên quan đến thủ đoạn “kích động quần chúng chống lại nhau” của Trung Cộng, dẫn đến việc người dân “thà theo tả chứ không theo hữu để tự bảo vệ mình”, do đó không có môi trường cho những tư tưởng tự do.
Sống trong một môi trường bị Trung Cộng chi phối, cưỡng bức và lừa dối như thế, rất nhiều điều mà người Trung Quốc đã làm về mặt khách quan là những viêc phi lý, độc ác, phạm tội; nhưng về mặt chủ quan, họ vẫn tin rằng mình đang làm những việc cao cả, vĩ đại và đúng đắn. Nói cách khác, trong bi kịch to lớn của sự đối lập giữa khách quan và chủ quan, qua nhiều năm không tỉnh ngộ, lừa mình dối người, người dân Trung Quốc trong quá trình bị lừa dối và đấu tranh vẫn kiên trì theo đuổi một cảnh giới tinh thần chủ quan là theo đuổi sự cao cả. Còn trong các vấn đề phi chính trị, quan hệ giữa người với người nhìn chung đều chân thành và nhiệt tình. Do đó, một số người khi hồi tưởng lại những năm 1950 và 1960, trong nội tâm thường dâng trào cảm xúc mạnh mẽ, lòng nhiệt huyết đối với quốc gia và nhân dân. Trên thực tế, hầu hết người Trung Quốc thời đó đã bị Đảng Cộng sản lừa dối triệt để, lừa đối đến cùng, nhưng trong quá trình bị lừa dối ấy, những người này vẫn tràn đầy sự chân thành, nhiệt huyết và xúc động trong tâm.
Giai đoạn thứ ba, sau phong trào cải cách mở cửa, lấy việc xây dựng kinh tế làm trọng tâm, tư tưởng của người dân trở nên ích kỷ chỉ vì bản thân.
Sau khi cải cách mở cửa, Đặng Tiểu Bình, đại diện cho thế hệ mới của Trung Cộng, đề xuất “lấy việc xây dựng kinh tế làm trọng tâm”. Khẩu hiệu này nghe giống như tư tưởng chỉ đạo của một xí nghiệp, nhưng cũng không phù hợp lắm với một xí nghiệp. Trong tình huống này, người dân được dẫn hướng theo đuổi sự giàu có, và tư duy của họ chuyển sang “chạy theo lợi nhuận” và “đua nhau làm giàu”. Tại thời điểm này, nhiều người Trung Quốc cảm thấy giá trị cuộc sống của họ là vì bản thân, dẫn đến hiện tượng rất nhiều người bắt đầu oán hận. Tại sao họ lại oán hận? Nguyên nhân bề mặt là ở chỗ, so với những năm 1950, đầu những năm 1960, người Trung Quốc thấy rằng tinh thần chủ đạo của họ chuyển từ “vì tập thể”, “vì người khác” và “thản đãng quang minh” sang “bè lũ xu nịnh” và “ích kỷ chỉ vì bản thân”. Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự là vì Trung Cộng đã hết sức cổ xúy hình tượng cá nhân của Mao Trạch Đông khi khởi xướng công cuộc cải cách mở cửa, mặc dù người dân Trung Quốc đã nhiều lần bị Mao Trạch Đông lừa dối trong khoảng từ năm 1949 đến năm 1976, nhưng vào thời cải cách mở cửa họ vẫn không cảm thấy từng tồn tại sự lừa dối dưới thời Mao Trạch Đông. Ngược lại, mặc dù người dân có nhiều tiền hơn, lương thực và quần áo có nhiều hơn trước, nhưng họ vẫn cảm thấy mất mát về mặt tinh thần. Đồng thời, họ vô cùng căm giận trước nạn tham nhũng tràn lan. Vì hai lý do này, họ cảm thấy oán hận.
Vậy thì liệu trạng thái tinh thần của người dân Trung Quốc đã bị trượt dốc? Nếu có, tại sao điều đó lại xảy ra? Thực tế là sự trượt dốc đó đã xảy ra. Căn nguyên dẫn đến sự trượt dốc và thay đổi này nằm ở bản thân Trung Cộng. Cụ thể có ba phương diện. Thứ nhất, bắt nguồn từ việc Trung Cộng liên tục phát động các cuộc vận động chính trị và lừa dối người dân, khiến rất nhiều người trái tim bị tổn thương. Bởi vì Trung Cộng kiểm soát tất cả các công cụ tuyên truyền, hệ thống giáo dục, kiểm soát phạm vi tai nghe mắt thấy của người dân, vậy nên dẫn đến rất nhiều người Trung Quốc, đặc biệt là các thanh thiếu niên vừa mới trưởng thành, hoàn toàn tin tưởng vào Trung Cộng. Thế nhưng Trung Cộng nói một đằng làm một nẻo, không ngừng tạo ra các cuộc vận động chính trị, liên tục lừa gạt đủ mọi tầng lớp nhân dân. Ví dụ: lừa dối phần tử tri thức, gán cho họ là cánh hữu; lừa dối học sinh, khiến họ lên núi xuống thôn; lừa dối nông dân, phát động phong trào “công xã hóa”, “đại nhảy vọt”, chiến dịch “thổi phồng thông tin”,… Sau nhiều lần bị Trung Cộng lừa dối, kích động quần chúng đấu tố lẫn nhau, liên tục bị phê bình đấu tố, hoặc trong quá trình bị uy hiếp đấu tố, họ bắt đầu cảm thấy thất vọng, ngày càng không dám nhẹ dạ cả tin vào người khác, không dám đối đãi với người khác chân thành như trước đây nữa.
Thứ hai, tác động phụ diện trong chính sách ban đầu của Trung Cộng “lấy đấu tranh giai cấp làm nguyên tắc chỉ đạo” lại trở thành chướng ngại khi Trung Cộng khôi phục chế độ quản lý đất nước một cách bình thường. Trong bất kỳ một triều đại hay quốc gia nào, việc cho phép người dân tự chủ sản xuất và phấn đấu cho cuộc sống tốt đẹp hơn vốn dĩ là điều rất đỗi bình thường, không cần phải bàn luận. Tuy nhiên, do Trung Cộng suốt 30 năm liên tục tuyên truyền đấu tranh giai cấp, khiến rất nhiều người coi đó là chân lý và là điều quan trọng nhất. Đến mức khi Trung Cộng cố gắng thay đổi “đường lối” và cho phép người dân tự chủ sản xuất và phấn đấu cho cuộc sống tốt đẹp hơn, họ cần phải đưa ra một khẩu hiệu mới để thay thế khẩu hiệu cũ nhằm giúp người dân có can đảm làm theo. Đó là lý do tại sao khẩu hiệu mới của Trung Cộng “lấy việc xây dựng kinh tế làm trọng tâm” lại xuất hiện và nguyên nhân tại sao nó phải xuất hiện. Tuy nhiên, chính khẩu hiệu này cũng có những tác dụng phụ.
Thứ ba, chủ nghĩa duy vật vô thần luận của ma quỷ cộng sản đã phá hoại phương thức giáo dục truyền thống đúng đắn của văn hóa truyền thống Trung Hoa đối với nhân dân. Văn hóa truyền thống Trung Hoa được xây dựng dựa trên nền tảng “kính Thiên trọng Đạo”, chỉ cần giúp người dân được nghỉ ngơi, khuyến khích lòng trung hiếu, và đề cao sự hài hoà giữa đạo nghĩa và lợi ích, kinh tế tự nhiên sẽ phát triển. Do đó, văn hóa truyền thống không cần phải bàn riêng về “phát triển kinh tế”, càng không cần phải “lấy việc xây dựng kinh tế làm trọng tâm”, mà nhấn mạnh lòng trung hiếu, nói về đạo đức, cân bằng đạo nghĩa và lợi ích. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản lại theo chủ nghĩa vô thần, nó không dám, không thể và không cho phép thảo luận về “kính Thiên trọng Đạo”. Vì vậy, về vấn đề phát triển kinh tế, nó chỉ có thể trực tiếp hô hào “lấy việc xây dựng kinh tế làm trọng tâm”. Việc giáo dục nhân dân không lấy đạo đức làm trung tâm, mà là tập trung vào lợi ích, đương nhiên sẽ dẫn dắt tư tưởng của người dân đi lạc hướng. Sống trong kiểu giáo dục này của Trung Cộng, tư tưởng của người dân Trung Quốc chỉ có thể ngày càng tập trung vào việc làm giàu cá nhân và ngày càng trở nên vật chất hóa. Cảnh giới tinh thần của con người chỉ có thể trượt dốc xuống mà thôi.
Quá trình thứ tư, vụ thảm sát ngày 4 tháng 6 năm 1989 đã dập tắt lòng yêu nước nồng nàn của rất nhiều người, khiến họ vùi đầu vào việc kiếm tiền để lấp đầy khoảng trống trong lòng và làm tê liệt bản thân.
Nhờ vào bề dày lịch sử và sự phong phú, sâu sắc của văn hóa truyền thống Trung Hoa, cho dù dưới nền giáo dục lệch lạc của Trung Cộng “lấy việc xây dựng kinh tế làm trọng tâm”, cho dù cảnh giới tinh thần của người dân ngày càng trở nên theo đuổi lợi ích cá nhân, nhưng vào thời đầu cải cách mở cửa, người Trung Quốc thân là con cháu Viêm Hoàng vẫn mang lòng yêu nước chân chính. Chính lòng yêu nước này đã dẫn đến phong trào thỉnh nguyện của sinh viên tại Quảng trường Thiên An Môn vào cuối xuân đầu hạ năm 1989, yêu cầu của họ chủ yếu là chống tham nhũng, và nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng ở Bắc Kinh và trên cả nước.
Tuy nhiên, vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989 đã khiến người dân Trung Quốc nhận ra bản chất thật sự của Đảng Cộng sản: nó tham nhũng, hủ bại và không cho phép người dân thực sự yêu tổ quốc và yêu đồng bào. Kết quả là, nhiều người yêu nước đã bất đắc dĩ phải từ bỏ lòng yêu nước của bản thân. Thay vào đó, họ lao vào thương trường, dùng tiền để thỏa mãn và làm tê liệt bản thân. Toàn xã hội tất nhiên cũng trở nên đuổi theo vật chất hơn. Nhiều cá nhân và doanh nghiệp rơi vào trạng thái chỉ theo đuổi lợi nhuận.
Quá trình thứ năm, ma quỷ dẫn dắt người Trung Quốc kiếm tiền đến kiệt quệ tâm lực, mục đích là ngăn cản thế nhân nghe hiểu lời giảng Pháp của Sáng Thế Chủ.
Từ đó trở về sau, trong quá trình tiếp tục “cải cách mở cửa” và “cải cách doanh nghiệp nhà nước”, ma quỷ đã dẫn động toàn bộ xã hội, thông qua sự bóc lột cực độ dẫn đến áp lực cuộc sống lên người dân xã hội Trung Quốc thật sự rất lớn, đồng thời lại vận dụng bộ máy tuyên truyền dẫn động tham vọng làm giàu mãnh liệt của mọi người. Trong lĩnh vực kinh doanh, tất cả các hoạt động đào tạo, tuyên truyền và giáo dục đều chỉ tập trung vào kiếm tiền, không màng hậu quả. Trong lĩnh vực pháp luật và chế độ, mọi thứ đều xoay quanh việc làm giàu, niêm yết cổ phiếu, kiểm soát nhiều tài sản hơn và đạt được lợi nhuận thành công, khuyến khích sáng tạo đổi mới, bất chấp hậu quả. Về phương diện chính trị, đánh giá hiệu quả dựa trên năng lực sản suất, trong vận hành lấy GDP (tức là các con số tiền tệ) làm thước đo tiêu chuẩn. Về phương diện nhân sự, mọi người đều đạt thành tích rồi đến vùng khác nhậm chức; mọi thứ đều xoay quanh các con số GDP, tất cả đều vì lợi ích trước mắt. Trong hơn 20 năm, liên tục thay đổi thủ đoạn bịp bợm, vắt óc tìm kế, lên kế hoạch cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, rồi lại quốc hữu hoá doanh nghiệp tư nhân, uỷ thác, đầu tư ra nước ngoài, hoạt động ở nước ngoài… Hình thế xã hội và các hình thức truyền thông mang tính cổ vũ này đã khiến nhiều người ra sức cố gắng làm sao để kiếm tiền, kiếm thật nhiều tiền, suy nghĩ làm thế nào để thay đổi cách làm sáng tạo, tay không bắt giặc, bốn lạng đỡ ngàn cân (nghĩa là đạt được kết quả cao nhất với nỗ lực ít nhất), một bước lên trời, vinh quang tột đỉnh, toàn tâm toàn lực đặt vào việc kiếm tiền.
Các nhân tố này một khi kết hợp với nhau sẽ dẫn đến một điều, khi Sáng Thế Chủ bắt đầu giảng Pháp, rất nhiều người thời gian dài nghe không hiểu.
Từ khi cuốn sách